Giới thiệu dự án nước rau, củ, quả

Năm 1910, một nhà sinh hoá người Mĩ, Casimir Funk đã sáng tạo ra từ “vitamin” vì nó là một chất thuộc nhóm amin và cần thiết cho sự sống (vital). Vital + amin = vitamin. Về sau có một số chất không thuộc nhóm amin nhưng cũng cần thiết cho sự sống. Vitamin đầu tiên được phát hiện vào năm 1910. Mặc dù có nhiều công trình nghiên cứu khoa học nhưng con người vẫn chưa hiểu hết về vitamin.

Vitamin rất cần cho cơ thể mỗi chúng ta. Chúng tham gia vào các phản ứng sinh học trong cơ thể dưới vai trò xúc tác, nhờ đó thức ăn được đồng hoá và biến đổi. Đồng hóa là quá trình tổng hợp các chất đặc trưng của tế bào từ các hợp chất vô cơ hoặc hữu cơ đơn giản và tích lũy năng lượng. Vitamin tạo thuận lợi cho việc sản xuất và sử dụng năng lượng. Ngoài ra vitamin còn bảo vệ tế bào khỏi bị tấn công nhờ đặc tính chống lại quá trình oxi hoá, tham gia vào việc chống nhiễm trùng, khử độc và sửa chữa các cấu trúc bị hư. Thiếu vitamin sẽ gây rối loạn trong cơ thể.

Mặc dù có cấu trúc hoá học, vai trò, tác dụng khác nhau, nhưng tất cả các vitamin đều có chung đặc tính:

+ Không cung cấp năng lượng (tức calo = 0).

+ Hoạt động với số lượng rất nhỏ: Tuỳ theo từng loại vitamin mà lượng cần hàng ngày thay đổi từ vài microgam (vitamine B12) đến vài chục milligram (vitamine C).

+ Ða số cơ thể không tổng hợp được phải cung cấp từ thực phẩm bên ngoài.

+ Không thể thay thế lẫn nhau. Tức là khi thiếu vitamin này không thể thế bằng vitamin khác.

+ Cần thiết cho hoạt động và phát triển của cơ thể.

Cơ thể chúng ta không thể tự sản xuất vitamin, nó phải được đưa vào từ nguồn bên ngoài dưới dạng thức ăn (trừ một số vitamin như vitamin D, PP …). Ngày nay với việc sử dụng ngày càng rộng rãi các loại thực phẩm ở dạng nguyên chất, có độ tinh chế tối đa như bánh mì trắng, gạo xay xát kĩ bằng máy, các loại mì ống và mì sợi … hầu như không còn vitamin. Đặc biệt, hàm lượng vitamin có rất nhiều trong rau, củ, quả bị giảm đi đáng kể do nấu chín kĩ, bảo quản lâu đã không đáp ứng được nhu cầu vitamin hàng ngày của mỗi người. Hàm lượng mỗi vitamin trong cơ thể đều phải ở một mức nhất định mới duy trì được sức khỏe cho con người. Việc giảm sút vitamin làm sức đề kháng của cơ thể suy yếu dễ bị bệnh tật tấn công. Các vitamin có nguồn gốc từ động vật cũng như thực vật. Cơ thể chỉ cần một lượng nhỏ vitamin nhưng thiếu chúng là không được. Vitamin rất dễ bị phá huỷ, chẳng hạn Vitamin B1, vitamin C sẽ mất đi khi nấu nướng …

Một số vitamin được lưu trữ trong cơ thể rất lâu, trong khi một số khác lại đi qua nhanh chóng và yêu cầu phải được bổ sung thường xuyên. Các loại vitamin khác nhau tạo ra hiệu quả và chứa trong các nguồn thực phẩm khác nhau.

Hiện có các loại vitamin sau: Vitamin A, vitamin nhóm B, vitamin C, vitamin D, vitamin E, vitamin H, vitamin K. Trong nhóm vitamin B chia ra nhiều loại như: B1, B2, B3, B4, B5, B6, B7, B8, B9, B10, B11, B12. Theo chuyên môn người ta chia vitamin ra làm hai nhóm: Loại tan trong mỡ gồm vitamin A, D, E, K; loại tan trong nước gồm vitamin nhóm B, vitamine C. Vitamin tan trong nước chủ yếu làm nhiệm vụ xúc tác trong phản ứng sinh học có giải phóng năng lượng (các phản ứng oxi hoá – khử, sự phân giải các hợp chất hữu cơ …), nghĩa là chúng hoàn thành chức năng năng lượng. Vitamin hoà tan trong chất béo (trong dầu và mỡ) thì tham gia vào phản ứng tạo nên các chất, cấu trúc, cơ quan và mô của cơ thể, nghĩa là chúng hoàn thành chức năng tạo hình. Khi tiêu thụ các vitamin hòa tan trong chất béo, cơ thể của chúng ta lưu trữ chúng trong các tế bào chất béo cũng như trong gan cho đến khi sử dụng nó. Tùy thuộc vào từng vitamin cụ thể, nó có thể nằm trong các mô của cơ thể từ vài ngày đến sáu tháng. Ví dụ như các vitamin A, D, E và K. Khi bạn tiêu thụ các vitamin tan trong nước, cơ thể sẽ hấp thụ chúng qua đường máu, phần vitamin không được cơ thể hấp thụ sẽ ra khỏi cơ thể bằng đường tiểu. Nghĩa là bạn cần bổ sung những vitamin này thường xuyên để duy trì sức khỏe đầy đủ. Ví dụ như các vitamin B và C.

Những người trông bên ngoài khỏe mạnh nhưng có thể thiếu vitamin. Điều này có thể gây ra những rối loạn thần kinh. Họ dễ bị kích thích, mất bình tĩnh do những nguyên nhân rất nhỏ nhặt; họ dễ bị mẫn cảm với âm thanh của radio, tiếng ồn ào của trẻ con; họ dễ bị mất ngủ, suy giảm lao động … Việc không cung cấp đầy đủ vitamin cho cơ thể sẽ ảnh hưởng xấu không những cho hệ thần kinh, mà còn tới hàng loạt cơ quan khác trong cơ thể. Vì thế chúng ta phải bổ sung vitamin hàng ngày thông qua việc uống nước rau, củ, quả tươi …

Vitamin A: Thiếu vitamin A có thể gây bệnh quáng gà, khô mắt, đục thủy tinh thể; răng yếu mau hư, da khô có vẩy, tóc thì khô giòn, dễ bị nhiễm khuẩn, xương chậm phát triển …

Mắt được cấu tạo bởi các sắc tố có chứa vitamin A. Nó được hấp thụ bởi luồng thần kinh vận chuyển nhờ dây thần kinh thị giác. Vì vậy sự có mặt của vitamin A là một phần không thể thiếu đối với việc đảm bảo thị giác của con người. Vitamin A kích thích quá trình phát triển của các biểu mô như mô sừng, ruột và các đường hô hấp. Nó ảnh hưởng đặc biệt đến da, kích thích sự liền sẹo và phòng ngừa các chứng bệnh của da như bệnh trứng cá. Do vai trò quan trọng trong sự phát triển tế bào của con người nên vitamin A là yếu tố không thể thiếu đối với sự phát triển của phôi thai và trẻ em. Vitamin A có vai trò đối với sự phát triển của xương, thiếu vitamin A làm xương mềm, mảnh hơn bình thường, quá trình vôi hoá bị rối loạn. Vitamin A tham gia tích cực vào sức chống chịu bệnh tật của con người. Vitamin A kéo dài quá trình lão hóa do làm ngăn chặn sự phát triển của các gốc tự do. Hoạt động kìm hãm của nó đối với các gốc tự do cũng dẫn đến ngăn chặn được một số bệnh ung thư.

Vitamin A có nhiều trong dầu cá, gan, thận, sữa, lòng đỏ trứng, các loại trái cây có vỏ màu vàng, đỏ như đu đủ, cà rốt, gấc …

Vitamin B: Chức năng cụ thể của vitamin B bao gồm sản xuất năng lượng và sản sinh các hồng cầu.

Thiếu vitamin B1 (thiamin) làm cho cơ thể mệt mỏi, chán ăn, tổn thương thần kinh, mất cảm giác vì viêm dây thần kinh ngoại vi, rối loạn tâm thần, kém tập trung, đầu ngón tay tê dại, tim đập nhanh, cơ thể sưng phù … Vitamin B1 có nhiều trong mầm lúa mì, mầm đậu nành, gạo lức, lòng đỏ trứng, gan, thịt nạc, cá …

Vitamin B1 cần thiết cho việc tạo ra một loại enzyme quan trọng tham gia vào quá trình chuyển hoá đường, đồng hóa thức ăn, kích thích cảm giác thèm ăn và quá trình phát triển của cơ thể. Khi thiếu vitamin B1 axit pyruvic sẽ tích lũy trong cơ thể gây độc cho hệ thống thần kinh. Vì thế nhu cầu vitamin B1 đối với cơ thể tỉ lệ thuận với nhu cầu năng lượng. Vitamin B1 tham gia điều hòa quá trình dẫn truyền các xung tác thần kinh, kích thích hoạt động trí óc và trí nhớ.

Thiếu vitamin B2 (riboflavin), biểu hiện qua các triệu chứng cơ thể mệt mỏi, chậm lành vết thương, đục thủy tinh thể, mắt cay, kém chịu đựng với ánh sáng mạnh, lưỡi đau, môi nứt nẻ, da khô, tóc dễ gãy, móng tay, móng chân giòn … Vitamin B2 có nhiều trong sữa, pho mát, thịt nạc, tim, gan, thận, trứng, hạt ngũ cốc, rau có lá màu xanh đậm …

Vitamin B2 tham gia vào sự chuyển hoá thức ăn thành năng lượng thông qua việc tham gia vào sự chuyển hoá glucid, lipid và protein bằng các enzyme. Vitamin B2 có ảnh hưởng tới khả năng cảm thụ ánh sáng của mắt.

Thiếu vitamin B3 (PP, niacin), rất hiếm gặp, nó chỉ xảy ra khi bị suy dinh dưỡng nặng, biểu hiện qua các triệu chứng giảm sinh lực, mất ngủ, tinh thần căng thẳng, lo âu, gắt gỏng; nhức đầu; chảy máu ở nướu răng, viêm ngứa trên da. Vitamin B3 có nhiều trong các thực phẩm như gan, thận, thịt nạc, cá, trứng, sữa, nấm, các loại hạt, ngũ cốc, rau …

Thiếu vitamin B6 (pyridoxin), biểu hiện qua các triệu chứng tổn thương dây thần kinh ngoại biên, có khi gây cơn co giật, tổn thương da, buồn nôn, nôn, chóng mặt, thiếu máu, giảm sinh lực, ăn không ngon, sút cân, ngủ mê, buồn rầu, tinh thần dễ bị kích động, cơ co rút và yếu, tê đầu ngón tay, da khô, thiếu hồng cầu, da chung quanh mắt, mũi, miệng bị nhờn và đóng vẩy, trẻ em hay lên cơn động kinh, bẳn tính … Vitamin B6 có nhiều trong nấm và mầm ngũ cốc, cám gạo, hạt hướng dương, chuối, cá, thận, gan, thịt gà, đậu nành …

Thiếu vitamin B12 (cobalamin) gồm các triệu chứng rối loạn cảm giác, kích thích thần kinh hoặc trầm uất, viêm da, lưỡi viêm đỏ, ăn không ngon, giảm cân, đi đứng không vững, tính tình cáu kỉnh, buồn rầu … Ở người chỉ ăn rau, trái cây, người bị cắt bỏ dạ dày, thiếu máu ác tính, nhiễm kí sinh trùng dễ bị thiếu vitamin B12. Các thực phẩm có nhiều vitamin B12 là gan, thận, tim, thịt bò, cá, lòng đỏ trứng, sữa, sữa chua, pho mát, sò, cua …

Vitamin C: Chức năng của vitamin C bao gồm duy trì cơ bắp và nướu răng, khả năng chống nhiễm trùng cho vết thương. Thiếu vitamin C, có các dấu hiệu xuất huyết dưới da và lợi răng, sưng và chảy máu nướu, giảm cân, mệt mỏi, đau nhức khớp và cơ, vết thương lâu lành, kém tập trung, bệnh nặng gây rụng răng, mềm xương, mạch máu dễ vỡ, thiếu máu, suy tim, tử vong …

Nhờ phản ứng chống oxy hoá mà vitamin C ngăn chặn ảnh hưởng xấu của các gốc tự do, hơn nữa nó có phản ứng tái sinh mà vitamin E không có. Viamin C giữ vai trò lớn trong quá trình hình thành collagen, một protein quan trọng đối với sự tạo thành và bảo vệ các mô da, sụn, mạch máu, xương và răng. Vitamin C cũng đóng vai trò trong quá trình liền sẹo. Vitamin C kết hợp với vitamin E tạo thành nhân tố quan trọng làm chậm quá trình phát một số bệnh ung thư. Vitamin C kích thích tổng hợp nên interferon – chất ngăn chặn sự xâm nhập của vi khuẩn và virut trong tế bào. Vitamin C làm giảm các chất thải có hại đối với cơ thể như thuốc trừ sâu, kim loại nặng, CO, SO2 và cả những chất độc do cơ thể tạo ra. Vitamin C kích thích sự hấp thụ sắt bởi ruột non. Trong đó sắt chính là nhân tố tạo màu cho máu và làm tăng nhanh sự tạo thành hồng cầu, cho phép làm giảm nguy cơ thiếu máu.

Triệu chứng khiếm khuyết vitamin C tiến hành tuần tự qua ba giai đoạn, mau hay chậm tùy theo mức độ thiếu hụt. Trước khi bị bệnh Scorbut do thiếu sinh tố C phải hội đủ điều kiện hình thành: Giai đoạn 1: Mệt mỏi, căng thẳng thần kinh, buồn ngủ, đau nhức cơ khớp. Giai đoạn 2: Chảy máu nướu răng, dưới da. Giai đoạn 3: Biến dạng xương khớp, vết thương không lành, hư răng, bội nhiễm.

Trái cây tươi là nguồn cung cấp vitamin C chủ yếu, đặc biệt là dâu, chanh, bưởi, ổi, cam, xoài, đu đủ, dưa hấu. Một loại trái cây quen thuộc ở Úc châu nên được nông gia Việt Nam lưu ý hội nhập là trái kiwi, vì đó là nguồn cung cấp dồi dào sinh tố C. Các loại rau có nhiều sinh tố C là cải broccoli, bắp cải, cà chua … Trong đa số trường hợp, chế độ dinh dưỡng với rau, củ, quả đủ đảm bảo hàm lượng sinh tố C cho cơ thể.

Cần lưu ý một điểm quan trọng là lượng vitamin C được cơ thể hấp thu và dự trữ không tỉ lệ thuận với hàm lượng vitamin trong thực phẩm, thậm chí còn giảm thiểu khi lượng vitamin C trong thực phẩm quá cao. Cụ thể nếu bạn ăn liền một lúc nửa chục cam sành thì phần lớn sinh tố C sẽ bị đào thải một cách hoang phí qua đường tiểu. Trong trường hợp này, dù tốn tiền, lượng vitamin C hữu ích cho cơ thể vẫn thấp hơn người chỉ ăn một trái cam nhưng đều đặn sau mỗi bữa ăn. Nhu cầu về liều lượng vitamin C không có chỉ tiêu cố định. Lượng vitamin C tối thiểu cần thiết cho cơ thể để ngăn ngừa bệnh Scorbut là 10 mg mỗi ngày. Nhu cầu về vitamin C trung bình cho người không phải làm việc nặng là 75 mg/ngày. Thai phụ có nhu cầu sinh tố C cao hơn, khoảng 100 – 130 mg mỗi ngày. Bệnh nhân có nhu cầu chống bội nhiễm, dự phòng ung thư, kháng dị ứng sẽ cần tối thiểu 150 mg sinh tố C mỗi ngày. Người nghiện thuốc lá, vận động viên, bệnh nhân trong giai đoạn hồi phục, công nhân lao động nặng nên được tiếp tế mỗi ngày với 200 mg sinh tố C.

Vitamin C là nguồn dược liệu thiên nhiên cần thiết cho qui trình phục hồi và phòng bệnh của cơ thể. Chỉ cần bảo vệ kho dự trữ vitamin C bằng cách tiếp tế đều đặn sinh tố C cho cơ thể, con người có thể ngăn chặn nhiều chứng bệnh trầm trọng.

Vitamin C là sinh tố tan trong nước và là một chất chống oxy hóa hiệu nghiệm. Hầu hết các loài động vật đều tự tổng hợp được vitamin C, nhưng con người, loài vượn và giống bọ thì phải được cung cấp từ thức ăn. Vitamin C đóng một vai trò chủ yếu trong việc hình thành collagen (chất cốt giao), rất quan trọng cho việc tăng trưởng, tái tạo những tế bào mô của cơ thể, những nướu răng, mạch máu, xương và răng. Vitamin C giúp hấp thu sắt vào cơ thể và chống stress. Nhu cầu sinh tố C hằng ngày cho người lớn là 60mg. Phụ nữ mang thai và cho con bú liều dùng đề nghị là 100mg/ngày. Những người hút thuốc hay người già, người sống ở đô thị ô nhiễm nhiều thì nhu cầu vitamin C cao hơn, bởi mỗi điếu thuốc tiêu hủy từ 25 – 100mg sinh tố C. Vitamin C có tác dụng ngăn ngừa xơ cứng động mạch, làm lành vết thương, vết bỏng và lợi bị chảy máu. Vitamin C giúp gia tăng hiệu quả những thuốc được sử dụng trong trường hợp nhiễm trùng đường tiểu, đường hô hấp, giúp nhanh chóng hồi phục sau khi mổ. Giúp giảm cholesterol trong máu. Giúp ngăn ngừa nhiều loại nhiễm trùng do virus hay vi khuẩn, làm mạnh hệ thống miễn nhiễm, bảo vệ chống lại nhiều bệnh ung thư. Đặc biệt, vitamin C, giúp chống lại sự hình thành “nitrosamin” (là chất gây ung thư, do vi khuẩn lên men nitrat thành nitrit rồi thành nitrosamin). Nó có tác dụng như một chất nhuận tràng tự nhiên, làm giảm nguy cơ đông máu ở tĩnh mạch, giúp điều trị và ngăn ngừa những bệnh cảm cúm thông thường. Tác dụng kéo dài tuổi thọ của vitamin C là khả năng chống oxy hóa và liên kết những tế bào lại với nhau. Ngoài ra, sinh tố C còn giảm hậu quả của những chất gây dị ứng; giúp giảm cao huyết áp, ngăn ngừa bệnh hoại huyết … Thiếu vitamin C sẽ bị bệnh  hoại huyết. Sinh tố C có nhiều trong trái cây chua thuộc họ cam quýt, dâu, cà chua, dưa hấu, cải bông, cải bắp, khoai tây và rau quả tươi khác. Liều dùng mỗi ngày thông thường từ 100 – 500mg sinh tố C là đủ. Dùng quá liều có thể gây ra sự hình thành những loại sạn oxalat và urat. Vì vậy, tốt nhất là bổ sung vitamin C bằng ăn uống. Trường hợp muốn bổ sung vitamin C bằng thuốc nên hỏi ý kiến thầy thuốc trước khi sử dụng.

Vitamin D: Thiếu vitamin D trẻ em sẽ bị bệnh còi xương, xương sọ lâu khép kín, xương sống cong, răng sữa chậm mọc, răng khôn mỏng manh, men răng dễ thương tổn; giảm sự hấp thụ canxi và photpho ở ruột làm cho xương và răng mềm, xương biến dạng và dễ bị gãy; gây ra chứng co cứng và giật các cơ (tetani) …

Vitamin D tham gia vào quá trình hấp thụ canxi và photpho ở ruột non; củng cố, tu sửa xương, tạo ra độ chắc cho răng; điều hoà chức năng một số gen, bài tiết của insulin, hormone cận giáp, hệ miễn dịch, phát triển hệ sinh sản và da ở nữ giới.

Cơ thể có khả năng tổng hợp vitamin D nhờ tác dụng của ánh nắng mặt trời lên da. Khoảng mười phút phơi nắng mỗi ngày, 2 – 3 lần/một tuần là có đủ lượng vitamin D cần thiết. Vitamin D có nhiều trong các loại thực phẩm như cá thu, cá trích, cá ngừ, gan, lòng đỏ trứng, bơ, sữa …

Vitamin E: Vitamin E có khả năng giúp hình thành hồng cầu, bảo vệ phổi và duy trì các mô trong gan, mắt và da. Thiếu vitamin E ở trẻ sơ sinh thiếu tháng, không đủ vitamin E sẽ có một số dấu hiệu như phù nề, vết thương trên da, tế bào máu bất bình thường … Vitamin E có nhiều trong lương thực và thực phẩm nên nếu ăn uống đầy đủ thường không bị thiếu vitamin E.

Do phản ứng chống oxy hoá bằng cách ngăn chặn các gốc tự do mà vitamin E có vai trò quan trọng trong việc chống lão hoá. Vitamin E kết hợp với vitamin C tạo thành nhân tố quan trọng làm chậm sự phát sinh của một số bệnh ung thư. Vitamin E làm giảm các cholesterol xấu và làm tănng sự tuần hoàn máu nên làm giảm nguy cơ mắc các bệnh tim mạch. Vitamin E kích thích hệ thống miễn dịch hoạt động bình thường bằng việc bảo vệ các tế bào …

Trên thực tế, hầu như không có bệnh chứng chuyên biệt do thiếu sinh tố E. Nhà thống kê đã ghi nhận mối liên hệ giữa đối tượng có lượng sinh tố E trong máu rất thấp với các chứng bệnh thời đại như nhồi máu cơ tim, ung thư, dị ứng. Triệu chứng điển hình thường gặp khi nguồn dự trữ sinh tố E bị thiếu hụt là khuynh hướng mỏi cơ, rối loạn thị lực, co thắt bắp thịt, suy nhược, hay quên.

Sinh tố E có nhiều trong các loại dầu thực vật, trong đậu, mè cũng như trong một số rau như rau dền, su hào …

Nhu cầu lí tưởng của sinh tố E là 12 mg mỗi ngày. Trong điều kiện sinh hoạt bình thường, chỉ tiêu này có thể được đáp ứng dễ dàng với chế độ dinh dưỡng có nguồn thực phẩm là rau cải, khoai lang và dầu ăn. Nhu cầu về sinh tố E gia tăng trong trường hợp có thai, đang cho con bú, với người đang trong tình trạng căng thẳng thần kinh, người không quen dùng dầu ăn thực vật. Bệnh nhân ung thư và tim mạch nên được tiếp lượng sinh tố E cao gấp 5 lần hàm lượng bình thường mà không sợ bị nhiễm độc, vì bệnh chứng do tích lũy sinh tố E trong cơ thể hầu như không có trong thực tế, trừ khi đối tượng có đủ phương tiện để tự đầu độc với liều sinh tố E tối thiểu 800 mg mỗi ngày và trong nhiều tháng liên tục.

Có hai loại vitamin E: Loại có nguồn gốc thiên nhiên và loại tổng hợp.

Vitamin E có nguồn gốc thiên nhiên: Ðược chiết xuất từ dầu thực vật như đậu tương, ngô, mầm lúa mạch, các loại hạt có dầu như hạt hướng dương … Vitamin E thiên nhiên là một đồng phân duy nhất của d – alpha tocopherol. Có 4 loại tocopherol là alpha, beta, gamma và delta, nhưng alpha là dạng chính (cũng là vitamin E thiên nhiên) tồn tại trong cơ thể, có tác dụng cao nhất. Tuy nhiên các dạng khác như beta, gamma và delta dù hoạt tính thấp hơn loại alpha nhưng cũng có tác dụng hỗ trợ rất lớn cho sức khỏe con người.

Mặc dù có tác dụng tốt nhất trong các loại tocopherol, nhưng do chiết xuất từ các thực phẩm thiên nhiên nên không kinh tế, vì vậy người ta đã sản xuất ra loại vitamin E tổng hợp có công thức là dl – alpha tocopherol, gồm 8 đồng phân nhưng chỉ có một đồng phân giống vitamin E thiên nhiên là d – alpha tocopherol (chỉ chiếm 12,5%), vì vậy tác dụng của vitamin E tổng hợp thấp hơn so với loại có nguồn gốc thiên nhiên.

Vì loại d – alpha tocopherol có tác dụng chính, vì vậy Hội đồng nghiên cứu Quốc gia Mĩ đã lấy nó làm tiêu chuẩn, và dùng đơn vị quốc tế IU để đánh giá hoạt tính của vitamin E trong các chế phẩm thương mại trên thị trường.

Về cơ chế hấp thu và sử dụng hai loại vitamin E thiên nhiên và tổng hợp trong cơ thể không có gì khác nhau, nhưng loại vitamin thiên nhiên được sử dụng nhiều hơn khoảng 50% so với loại tổng hợp. Vì vậy muốn đạt được hiệu quả mong muốn thì khi sử dụng vitamin E tổng hợp, phải uống tăng liều lên gấp 1,4 lần so với loại thiên nhiên. Lượng vitamin E dư thừa trong cơ thể sẽ nhanh chóng bị đào thải. Các công trình nghiên cứu đã chứng minh rằng vitamin E có tác dụng chống lại gốc tự do NO (Oxid Nitric) trong cơ thể (khi chất này dư thừa sẽ gây tác dụng xấu).

Khi phát hiện ra vitamin E và nhận thấy nó có tác dụng tốt đối với thai nghén, người ta đã đặt tên khoa học cho vitamin E là tocopherol, theo tiếng Hi Lạp nghĩa là mang lại sự sinh sản. Trong những trường hợp thai nghén thường có nguy cơ cao như hội chứng rối loạn tăng huyết áp trong thai nghén (trước đây gọi là nhiễm độc thai nghén), người ta đã cho thai phụ ở tình trạng tiền sản giật uống hàng ngày vitamin E phối hợp với vitamin C. Kết quả đã làm giảm nhẹ bệnh và 76% số bệnh nhân không còn tình trạng tiền sản giật. Người ta cũng nhận thấy nếu được uống bổ sung thường xuyên 400 đơn vị vitamin E và 1.000mg vitamin C hàng ngày vào 3 tháng giữa của thai kì sẽ làm giảm tỉ lệ thai phụ bị tiền sản giật. Loại vitamin E có nguồn gốc thiên nhiên được hấp thu vào máu, truyền sang thai nhi nhiều hơn và hiệu quả hơn so với loại vitamin E tổng hợp. Sở dĩ vitamin E góp phần làm cho quá trình mang thai, phát triển của thai nhi thuận lợi và giảm tỉ lệ sẩy thai hoặc sinh non là do đã trung hòa hay làm mất hiệu lực của gốc tự do trong cơ thể.

Vitamin E cũng làm giảm nhẹ các triệu chứng chuột rút, đau các bắp cơ hoặc đau bụng khi hành kinh ở các em gái tuổi vị thành niên. Các em gái nếu được dùng vitamin E ngay từ đầu của kì kinh sẽ giảm được 36% đau khi hành kinh.

Qua nghiên cứu thực nghiệm, các nhà khoa học nhận thấy vitamin E có thể ức chế quá trình oxy hóa DNA nên đã ức chế hoạt động của chuỗi tế bào ung thư vú, làm giảm được 95% sự gia tăng tế bào ung thư vú ở người sử dụng alpha tocopherol, nghĩa là vitamin E có thể gây độc có tính chọn lọc đến các tế bào ung thư vú.

Các nghiên cứu khác cho thấy những phụ nữ được bổ sung vitamin E thì tỉ lệ bị ung thư buồng trứng thấp hơn 67% so với nhóm không được sử dụng. Liều vitamin E bổ sung hàng ngày là 75mg, tương đương với 110 đơn vị vitamin E thiên nhiên. Người ta cũng khuyến cáo: Bổ sung vitamin E kèm với vitamin C hàng ngày có thể làm giảm nguy cơ ung thư buồng trứng.

Ngoài ra vitamin E còn góp phần cải thiện tình dục, giúp noãn (trứng) và tinh trùng phát triển tốt hơn, nâng cao kết quả điều trị vô sinh.

Hàng ngày, da thường tiếp xúc với ánh nắng có nhiều tia cực tím nên dễ bị hủy hoại, mất tính chun giãn và sạm lại. Dùng kem bôi da có chứa vitamin E sẽ giúp giảm sự bốc hơi nước và giảm mức độ nhạy cảm đối với tia cực tím, chống được sạm da. Ðối với người bị viêm da dị ứng (làm rối loạn màu sắc của da và gây ngứa do da chứa nhiều IgE), vitamin E có tác dụng giảm nồng độ IgE, trả lại màu sắc bình thường và làm mất cảm giác ngứa.

Khi có tuổi, da mất tính chun giãn, đồng thời do tác dụng của lượng gốc tự do dư thừa sẽ làm da nhăn nheo, mất độ chun giãn, tóc xơ cứng, giòn, dễ gãy, vitamin E có thể giúp cải thiện tình trạng trên (làm da mềm mại, tóc mượt ít khô và gãy như trước) do đã làm giảm tiến trình lão hóa của da và tóc.

Nói chung việc sử dụng vitamin E khá an toàn. Lượng dư thừa, không được cơ thể sử dụng, sẽ nhanh chóng bị đào thải ra khỏi cơ thể. Liều cần thiết cho cơ thể sử dụng hàng ngày trung bình khoảng từ 100 – 400 đơn vị. Vitamin E hầu như không có tác dụng phụ khi sử dụng ở liều thông thường. Tuy nhiên khi lạm dụng vitamin E, dùng liều quá cao có thể gây buồn nôn, dạ dày bị kích thích, tiêu chảy, chóng mặt, nứt lưỡi hoặc viêm thanh quản. Những triệu chứng này sẽ nhanh chóng mất đi sau khi ngừng thuốc. Tuy nhiên vitamin E có thể làm tăng tác dụng của thuốc chống động gây chảy máu. Khi dùng chung với Aspirin vitamin E có thể cản trở sự ngưng kết tiểu cầu của Aspirin.

Vitamin E có nhiều trong các thực phẩm nguồn gốc thiên nhiên có nhiều chất béo như đậu tương, giá đỗ, vừng, lạc, mầm lúa mạch, hạt hướng dương, dầu ô-liu, bắp, hạt dưa, hạt bí, các loại rau có lá màu xanh đậm … Vì vậy chỉ cần ăn nhiều dầu thực vật hoặc các thức ăn có nhiều vitamin E hàng ngày là đủ. Nếu thiếu, trong một số trường hợp cụ thể nên được các bác sĩ tư vấn về sự cần thiết có phải sử dụng vitamin E không? Nếu cần thì liều lượng thế nào và thời gian sử dụng bao lâu? Hiện nay các nhà thuốc có bán loại vitamin E nguồn gốc thiên nhiên, dạng viên nang, một vỉ 10 viên với tá dược là dầu đậu tương, hàm lượng thích hợp và dễ dùng.

Vitamin K: Thiếu vitamin K máu sẽ khó đông, làm cho vết thương chảy máu liên tục. Do cơ thể có khả năng tổng hợp vitamin K dưới tác dụng của vi khuẩn trong ruột (tạo ra 80% số lượng vitamin K cần thiết), phần còn lại do thực phẩm cung cấp nên người trưởng thành rất ít khi bị thiếu vitamin K. Tuy nhiên ở những người bị bệnh gan, bệnh đường ruột hoặc dùng kháng sinh dài ngày thường bị thiếu vitamin K, với các triệu chứng như xuất huyết dưới da, trong dạ dày, ruột … Vitamin K có nhiều trong trà xanh, củ cải, đậu nành, dầu thực vật, gan, lòng đỏ trứng …

Như vậy muốn phòng tránh thiếu vitamin, cần có chế độ ăn phong phú với nhiều loại thực phẩm khác nhau nhất là phải ăn nhiều rau, củ, quả …

Sau thời gian tìm hiểu, nghiên cứu, khảo sát, điều tra … tôi quyết định hoàn thành dự án rau, củ, quả bởi nhiều lí do. Trong đó có những lí do chính sau đây:

+ Nước rau, củ, quả rất có lợi cho sức khỏe con người vì chúng cung cấp một lượng vitamin lớn mà ít gây tác dụng phụ.

+ Tần suất sử dụng sản phẩm từ rau, củ, quả dày đặc, thường xuyên. Có thể nói ngày nào chúng ta cũng phải dùng rau, củ, quả để duy trì sức khỏe.

+ Kinh doanh nước giải khát là một trong số ít ngành đem lại siêu lợi nhuận. Một vốn bốn lời. Đây là một hướng đi lí tưởng cho những ai phù hợp.

+ Nguyên liệu để chế biến ra nước rau, củ, quả ở Việt Nam vô cùng phong phú, dồi dào …

Không cần con mắt “tinh đời” chỉ cần bạn chịu khó quan sát, bạn sẽ thấy việc kinh doanh nước rau, củ, quả là một định hướng tuyệt vời. Mỗi khi nhìn thấy người nông dân mình giục bỏ hàng đống trái cây vì không có người mua hay bị ép giá tôi đã ứa nước mắt. Nước trái cây bổ dưỡng là vậy mà lại để cho dân ta hàng ngày phải uống các loại nước có gas. Chả lẽ chúng ta đành đứng nhìn người nước ngoài sử dụng chính con người, nguyên liệu … của mình để làm giàu cho họ? Việt Nam đâu có thiếu người tài. Tại sao chúng ta lại để xảy ra tình trạng này?

Hiện nay đã có một số cá nhân, tổ chức nhận ra con đường kinh doanh nước rau, củ, quả đầy triển vọng, nhưng dường như họ còn yếu và thiếu nhiều thứ nên chưa thể tạo ra “con sóng lớn”. Với tất cả tâm huyết tôi đã hoàn thành dự án nước rau, củ, quả vì muốn đóng góp nhiều hơn cho quê hương, dân tộc.

Dự án nước rau, củ, quả gồm có 111 trang, trong đó trình bày những nội dung cơ bản sau đây:

I. Lí do ra đời: Trong phần này tác giả trình bày những lí do thuyết phục dẫn đến sự ra đời của dự án: Mang lại nhiều lợi ích cho khách hàng; tần suất sử dụng sản phẩm rất cao; ngành kinh doanh mang lại siêu lợi nhuận; nguyên liệu chế biến phong phú, dồi dào; loại hình kinh doanh xoay vòng vốn nhanh; thị trường rộng lớn còn nhiều tiềm năng; lực lượng lao động đông đảo, giá rẻ; qui mô có thể mở rộng không ngừng …

II. Mô tả dự án: Trình bày về loại hình kinh doanh nước rau, củ, quả, mục đích mà chúng ta muốn đạt tới. Ở phần này tác giả đã đưa ra mô hình hoạt động của dự án nước rau, củ, quả. Giá trị của dự án nằm phần lớn ở mô hình hoạt động. Không nghĩ ra mô hình hoạt động hiệu quả dự án sẽ không thể vận hành tốt.

III. Điều kiện tiến hành: Nêu ra những điều kiện cần thiết để thực hiện thành công dự án như: Nguồn vốn dự trù, kĩ thuật kinh doanh, phẩm chất, năng lực. Không phải ai cũng có thể thực hiện thành công dự án này. Muốn thực hiện thành công dự án bạn phải có một số vốn như dự án đề cập, hiểu tường tận về mô hình hoạt động của dự án, kĩ thuật kinh doanh cũng như có đầy đủ phẩm chất, năng lực. Trong trường hợp khiếm khuyết phải khắc phục trước khi tiến hành.

Đối với một số bạn có số vốn ít hơn nhưng vẫn muốn thực hiện mô hình này bạn phải tiến hành theo phương pháp khác. Phương pháp đó không được đề cập trong dự án nhưng nếu bạn có nhu cầu tác giả sẵn sàng hướng dẫn tận tình.

IV. Khó khăn, thuận lợi: Bất cứ lĩnh vực nào cũng có khó khăn và thuận lợi. Nhằm giúp bạn có cái nhìn tổng quan trước khi quyết định theo đuổi dự án nước rau, củ, quả, tác giả đã trình bày những khó khăn và thuận lợi chính sẽ gặp trong quá trình thực hiện để bạn lưu tâm. Những khó khăn chính mà bạn sẽ gặp khi thực hiện dự án là: Kĩ thuật kinh doanh, đủ nguồn nhân lực, rào cản tâm lí, mặt bằng kinh doanh, kiểm soát chất lượng, sản xuất hàng loạt, điều hàng, bảo quản, quản lí thu chi, phương diện giao tiếp. Song song với khó khăn là những thuận lợi như: Thị trường tiềm năng, mô hình sáng tạo, nguyên liệu dồi dào, nhu cầu rất lớn, xoay vòng vốn nhanh, lao động dồi dào, nhiều người ủng hộ, rủi ro thấp nhất (do phương pháp thực hiện quyết định).

V. Công tác chuẩn bị: Muốn thành công trong bất cứ việc gì cũng cần chuẩn bị chu đáo. Đó là lí do mà tác giả trình bày cụ thể các công tác: Điều tra, nghiên cứu thị trường; tuyển dụng, đào tạo nhân tài; tìm kiếm, thu mua nguyên liệu; lập nơi chế biến, bảo quản, lập nơi phân phối sản phẩm.

VI. Sản phẩm – dịch vụ: Có lẽ đây là nội dung mà bạn rất quan tâm. Ở phần này tác giả đã đưa ra 5 loại hình sản phẩm và 4 loại hình dịch vụ chính giúp dự án thu lại nhiều lợi nhuận nhất. Ở loại hình sản phẩm nước rau, củ, quả tươi, tác giả đã trình bày công dụng và cách chế biến 30 loại nước rau, củ, quả các loại. Bên cạnh đó, tác giả cũng đề cập tới: Khác biệt cơ bản so với đối thủ, tần suất mua sắm, tuổi thọ sản phẩm, tính toán chi phí, cách thức định giá, cách thức bán hàng, phục vụ khách hàng, những dự báo phát triển trong tương lai.

Điểm khác biệt lớn nhất giữa chúng ta và đối thủ cạnh tranh là tầm nhìn, phương thức kinh doanh, chiến lược kinh doanh, mục đích kinh doanh … Nhìn vào mô hình hoạt động của dự án nước rau, củ, quả bạn cũng hiểu rằng mô hình này thể hiện được tầm nhìn sâu rộng, toàn diện. Mô hình mua mang đi là mô hình kinh doanh ở xã hội hiện đại. Làm giàu cần thận trọng. Tiến bước nào chắc bước đó. Đội ngũ bán hàng trên internet sẽ chuyên bán hàng trên internet. Đội ngũ bán hàng ở quán sẽ chuyên bán hàng ở quán … Nói chung, ai ở khâu nào phải làm tốt khâu đó. Không có chuyện một người vừa làm cái này vừa làm cái kia. Chuyên môn hóa mới cho ra sản phẩm, dịch vụ đạt chất lượng để phát triển bền vững. Khâu phân phối giữ vai trò định hướng, chỉ đạo toàn bộ quá trình sản xuất. Mọi quyết định đưa ra đều được nghiên cứu, thử nghiệm … ngoài thực tế. Mọi công việc đều có kế hoạch. Đảm bảo không có sai sót. Một khi đã khởi nghiệp là phải thành công.

VII. Thị trường – khách hàng: Cho bạn biết những thông tin khái quát về thị trường – khách hàng trong lĩnh vực nước rau, củ, quả. Thị trường hiện nay như thế nào? Có những vấn đề gì cần lưu ý? …

Định hướng kinh doanh nước rau, củ, quả trong dự án này là định hướng đúng đắn. Nếu như không có ai đó làm tốt thì trong tương lai các doanh nghiệp nước ngoài sẽ nhảy vào thâu tóm thị trường của chúng ta. Khi đó chúng ta sẽ càng khó khăn hơn khi theo đuổi lĩnh vực này.

VIII. Tiếp thị – bán hàng: Ở phần này tác giả đưa ra 5 chiến lược bán hàng hiệu quả giúp dự án tăng doanh thu tuyệt đối và đánh bại hoàn toàn những đối thủ khác trên thương trường.

IX. Phân bổ nguồn lực: Việc phân bổ nguồn lực như thế nào để thực hiện thành công dự án đã được tác giả phân tích, lí giải cặn kẽ trong phần này. Điều này giúp cho bạn vững tin hơn trên con đường mình chọn.

X. Chiến lược phát triển: Việc hoạch định ra chiến lược phát triển thể hiện tầm nhìn, tham vọng, tư duy … của người thực hiện. Ở đây 7 chiến lược phát triển có ý nghĩa sống còn đối với dự án đã được trình bày chi tiết.

XI. Tổ chức quản lí: Việc thiết lập được sơ đồ tổ chức khoa học sẽ giúp cho dự án nước rau, củ, quả ngày một đi lên. Đó là lí do mà phần này không thể thiếu.

XII. Ý nghĩa dự án: Một dự án ý nghĩa không chỉ đem lại lợi ích cho người thực hiện mà còn cho cả cộng đồng.

Việc theo đuổi mô hình kinh doanh nước rau, củ, quả xét ở nhiều phương diện là một lựa chọn tốt, vấn đề còn lại là làm sao để thực hiện thành công mô hình này? Câu hỏi hóc búa đó sẽ được giải đáp rõ ràng khi bạn có trong tay bản dự án nước rau, củ, quả hoàn chỉnh.

Ai quan tâm xin liên hệ:

Chat Master Club

Website: https://chatmasterweb.wordpress.com

E-mail: chatmasterweb@yahoo.com

06/02/2015

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s