Ý tưởng bán dạo rau sạch

1. Ý tưởng:

Tôi thấy rau sạch là thức ăn thiết yếu hàng ngày thế nhưng phương thức phân phối hàng hóa đến tay người tiêu dùng còn nhiều bất cập (chậm chạp, thiếu chuyên nghiệp, nhiệt tình …). Những bó rau sau khi được nhà phân phối đem về họ thụ động ngồi tại chỗ chờ người mua đến lựa, trong khi đặc điểm của rau sạch là phải nhanh chóng trao đến tận tay khách hàng khi nó còn tươi mới.

Rau sach

Bằng một cách nào đó bạn tập trung các loại rau sạch ở một chỗ, sau đó thiết lập kênh bán dạo (bán lẻ) để nhanh chóng đưa hàng đến tận tay khách hàng quanh vùng thì quả là rất tuyệt vời. Tôi không tin rau của bạn đạt tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, chất lượng, tươi mới, giá cả hợp lí, mang đến tận nơi mà khách hàng không mua. Mỗi ngày ai cũng phải ăn rau, nhiều lúc vì bận rộn quá họ không có thời gian đi siêu thị, chợ … thì phương thức bán hàng này mang lại hiệu quả vô cùng to lớn.

Để cho việc phân phối rau được chuyên nghiệp hơn bạn có thể đăng kí thương hiệu; tuyển dụng, đào tạo nhân viên; thiết kế xe đẩy sao cho thật đẹp, đi vào những múi giờ cố định, những tuyến đường vạch sẵn … Ở những vùng nông thôn bạn có thể dùng xe máy để kéo xe đẩy đi khắp xóm làng, nhưng ở thành phố thì cho nhân viên đẩy đi bán dạo. Những chiếc xe đẩy như những quầy hàng di động có nhân viên mặc đồng phục, phục vụ tận tình, tính tiền có hóa đơn … đảm bảo sẽ loại những “gã khổng lồ” ngông cuồng nhất.

Tôi nghĩ bạn không cần phải vắt óc nghĩ ra những ý tưởng làm giàu siêu phàm mà hãy tìm cách phục vụ tốt nhất những nhu cầu thiết thực trong dân chúng. Đó là cách làm giàu rất thực tế trong thời buổi khó khăn này.

Nếu bạn có điều kiện về vốn bạn có thể mua đất lập một trang trại trồng rau sạch, mở đại lí thu gom rau sạch … giám sát từ khâu trồng cho đến thu hoạch thì chất lượng phục vụ của bạn sẽ cao hơn. Cạnh tranh kinh tế nói thẳng ra chẳng qua chỉ là cạnh tranh về chất lượng, thời gian … Chất lượng là nền tảng để phát triển bền vững. Trong bất kì thời đại nào, ai làm đạt chất lượng, năng suất cao nhất người đó sẽ chiến thắng.

Tôi vô cùng bức xúc khi thấy rằng rau sạch là hàng hóa được khách hàng dùng nhiều nhất nhưng lại chưa có cá nhân, tổ chức nào làm tốt công tác giám sát tất cả các qui trình và phân phối hàng đến tay khách hàng tốt. Chưa có cá nhân, đơn vị nào đủ uy tín để đảm bảo chất lượng rau mình bán ra. Chưa có thương hiệu rau sạch nào đủ mạnh để đánh dạt những thương hiệu rau chất lượng kém. Thị trường rau bây giờ rất bát nháo, trà trộn cả những loại rau của Trung Quốc độc hại. Đà này đời sống dân mình còn khổ dài dài.

Bỏ một ngày vào siêu thị Co-op Mart (siêu thị có tiếng nhất nước ta) để xem rau bán nơi đây thế nào thấy thật nản. Rau gì mà dập nát, dính cả bùn đất … Vậy mà họ vẫn cho rằng mình đang phục vụ tốt?!

Trong tương lai không xa khi công việc làm ăn tấn tới bạn có thể huy động vốn để mở siêu thị rau sạch. Tôi tự hỏi giữa thời buổi sống dở chết dở này tại sao có người lại đâm đầu vào đầu tư những lĩnh vực sức mua kém, trong khi đó những lĩnh vực sát sườn hàng ngày thì không bỏ vốn vào? Thất bại hay thành công phần lớn do chúng ta định đoạt cả!

2. Hoàn cảnh khách quan:

“Mua bán rau sạch: Tin nhau là chính!

Dù rau an toàn được quảng cáo và bày bán ở nhiều nơi nhưng người tiêu dùng vẫn chưa thể tin tưởng vì thiếu cơ sở kiểm chứng. Trong khi đó, chiến dịch gắn tem, dán nhãn cho rau an toàn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tuy đang được thực hiện nhưng vẫn gặp nhiều khó khăn.

Rau nào cũng … sạch

Ăn theo mô hình trồng rau an toàn (RAT) đang được Bộ NN-PTNT triển khai ở Hà Nội và TP.HCM, các cơ sở, cửa hàng quảng cáo bán sản phẩm này mọc lên như nấm. Tại các chợ ở TP.HCM, người bán thường chào hàng rau sạch, RAT, rau vườn, rau nhà trồng … để khách yên tâm rau không có thuốc trừ sâu, chất độc hại. Tuy nhiên, rau củ các loại chỉ được sắp xếp theo từng chủng loại chứ không có dấu hiệu nào để phân biệt đâu là “rau sạch”, đâu là “rau thường”. Giá cả thì cũng loạn xị, nơi cao, nơi thấp, thậm chí có nơi giá “rau sạch” còn rẻ hơn “rau thường”. Ở chợ Gò Vấp, Tân Sơn Nhất (Q.Gò Vấp), Bà Chiểu, Thị Nghè (Q.Bình Thạnh) … ngoài các sạp chuyên bán rau, củ trong chợ còn có nhiều điểm bán nhỏ lẻ – người bán chở xe đạp hoặc chỉ ôm một thúng rau ngồi bán, tự giới thiệu là rau nhà trồng, đảm bảo không có thuốc trừ sâu. Là “rau sạch” nhưng giá lại rẻ hơn 2.000 – 3.000đ/bó so với giá bán trong chợ, như rau cải các loại, rau muống 8.000 – 10.000đ/bó, trong chợ giá 12.000đ/bó. Một số người bán gắn tấm bảng ghi “rau sạch”, nhiều bà nội trợ cả tin, còn lí giải “nhìn gốc rau còn dính cả đất, còn nguyên trấu, chắc họ tự trồng thật”. Nhiều trang bán hàng nông sản qua mạng còn quảng cáo là “rau hữu cơ”, “rau tinh khiết” … bán giá rất cao, có loại giá cao gấp đôi – gấp ba giá bình thường. Cụ thể như giá bán lẻ cải xanh, bí xanh, cà chua, dưa leo … tại một số chợ trên địa bàn TP.HCM chỉ 8.000 – 10.000đ/kg nhưng một số “chợ online” niêm yết giá 16.000 – 29.000đ/kg.

Theo qui định, RAT sản xuất theo tiêu chuẩn VietGap phải đáp ứng các qui định về đất trồng, nguồn nước tưới, sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thời gian cách li với phân, thuốc trước khi thu hoạch cho đến khâu thu hoạch, sơ chế, bảo quản, vận chuyển và tiêu thụ sản phẩm … Hiện nay, rau củ đạt tiêu chuẩn VietGap chủ yếu được phân phối ở các hệ thống siêu thị và một số cửa hàng chuyên doanh rau củ an toàn, chỉ một vài chợ như Văn Thánh, Thị Nghè (Q.Bình Thạnh), Nguyễn Tri Phương (Q.10) … một số tiểu thương có bán kèm rau củ VietGap từ nguồn cung của một số hợp tác xã (HTX) với giá đắt hơn rau thường từ 30 – 50%. Tuy nhiên, với cách bán hàng hiện nay thì người mua – người bán chỉ biết tin nhau là chính, rất khó để phân biệt rau củ VietGap với các loại rau củ khác, chưa kể có người bán còn nhập nhằng trộn lẫn, đánh tráo với rau củ thường để lừa người tiêu dùng (NTD). Chủ nhiệm một HTX chuyên cung cấp rau củ VietGap thừa nhận: “Có tình trạng tiểu thương lấy một vài đợt hàng đầu để xin giấy chứng nhận rau củ VietGap, sau đó lấy hàng ít dần, thậm chí ngưng luôn nhưng vẫn dựa vào giấy chứng nhận VietGap để bán hàng với giá cao”.

Tại Hà Nội, RAT không chỉ có mặt ở hầu hết các siêu thị như BigC, FiviMart, Hapro, Coop Mart … mà còn được rao bán phổ biến từ các cửa hàng thực phẩm tới chợ bán lẻ. Tại một ki-ốt ở chợ Thái Hà (Đống Đa, Hà Nội), đậu cô ve được đóng trong bao bì ni lông 0,5kg và dán tem “sản phẩm RAT xã Vân Nội”. Với hình thức đẹp, trái “đều tăm tắp”, giá mỗi kí đậu này là 20.000đ, cao hơn so với sản phẩm thông thường từ 4.000 – 6.000đ. Bà chủ cửa hàng giới thiệu: “Đây là rau chị nhập từ “vựa” Vân Nội, đảm bảo an toàn 100%. Không tin em cứ để ý nhãn mác, có ghi cả số điện thoại của cơ sở sản xuất”. Khi chúng tôi ngỏ ý muốn mua thêm sản phẩm RAT khác của Vân Nội, bà này chỉ tay vào quầy: “Tất cả đều là RAT Vân Nội”! Tuy nhiên, các sản phẩm này lại không có nhãn mác hay bất cứ giấy tờ chứng nhận nào. Thấy sự băn khoăn của khách hàng, bà chủ giải thích: “Vì rau lá dễ héo nên không thể đóng trong bao bì, chỉ cột lại như bình thường”.

Tương tự, ở nhiều quầy rau ở chợ Bông Đỏ (Hà Đông, Hà Nội), các chủ hàng đều lắc đầu khi người mua hỏi giấy chứng nhận RAT vì giấy chứng nhận chỉ cấp đến cơ sở bán buôn chứ không cấp cho từng cơ sở nhỏ, lẻ. Thậm chí, ngay ở các “shop rau sạch”, NTD cũng khó có thể nhận biết được sản phẩm mình mua có đúng như lời quảng cáo. Tại cửa hàng Rau nhiệt đới trên phố Sơn Tây (Ba Đình, Hà Nội), một nam nhân viên cho biết, toàn bộ các loại rau đều là RAT từ các cơ sở sản xuất tại huyện Chương Mỹ (Hà Nội). Các loại rau, củ được phân từng khu, bày trên giá nhựa sạch sẽ và bắt mắt. Tuy nhiên, trên các mớ rau, người mua không thể tìm được bất cứ nhãn mác nào. Rau cải, rau muống … đều được cột bằng rơm thay vì dây ni lông in địa chỉ sản xuất như thường thấy ở siêu thị. Nhân viên cửa hàng giải thích, NTD phải … tin vào cửa hàng. “Nếu chỉ căn cứ vào nhãn mác thì cũng không thể chứng minh được đâu là RAT vì việc in tem hay in chữ trên dây ni lông là vô cùng đơn giản, bất cứ cơ sở nào cũng có thể làm nhái”, anh này quả quyết.

Siết chặt qui trình quản lí theo chuỗi

Một bộ phận NTD chấp nhận mua RAT với giá cao nhưng không có cơ sở hay tiêu chí nào đảm bảo rau họ mua là RAT nên vẫn rất băn khoăn. Sự bát nháo của thị trường RAT chính là nguyên nhân khiến NTD vẫn còn tâm lí “dè dặt”, dù sản phẩm này đã được triển khai ở Việt Nam hơn chục năm nay. Theo điều tra mới nhất của Hội Tiêu chuẩn và bảo vệ NTD Việt Nam (Vinatas), nhu cầu rau sạch cho bữa ăn gia đình rất cao, song có tới 90% NTD tại Hà Nội không thể phân biệt được giữa RAT và rau không an toàn bằng mắt thường. Việc phân biệt RAT vẫn dựa vào cảm quan là chính vì rau củ VietGap vào siêu thị, chợ, ngoài hàng đóng gói sẵn trọng lượng 300g, 500g, vẫn có loại rau củ “xá” không bao bì. Bà Nguyễn Thị Ánh Ngọc – Chủ nhiệm HTX Thỏ Việt (Củ Chi), cho biết: “Rau củ VietGap nhìn không đẹp, không mướt, thậm chí lá bị sâu đục lỗ … nhưng đây lại là điểm nhà phân phối thường bắt lỗi, chê hàng, làm sao trách được NTD không chuộng. Trong khi rau củ đạt tiêu chuẩn VietGap ngoài việc kiểm tra dư lượng thuốc trừ sâu còn được phân tích các thành phần nitrat, kim loại nặng để đảm bảo an toàn tuyệt đối”.

Một trong những biện pháp được Bộ NN-PTNT xem là trọng tâm để mở rộng mô hình RAT đến với NTD là việc dán nhãn sản phẩm. Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Văn Minh – Phó Chủ nhiệm HTX Văn Đức (Gia Lâm, Hà Nội), một trong những mô hình RAT điển hình của Hà Nội, việc gắn nhãn cho RAT mới chỉ thực hiện được ở khâu xuất buôn. Nguyên nhân là do thói quen thu hoạch rau của người dân thường diễn ra vào buổi tối, trong khi việc dán tem nhãn đòi hỏi nhiều thời gian và đội ngũ cán bộ dán tem còn rất mỏng. Ngoài ra, tem chứng nhận của HTX chỉ được dán trên những bao bì RAT có khối lượng 40 – 60kg nên khi mang về chợ bị xé lẻ, NTD vẫn không thể nhận biết được đâu là RAT.

Ông Nguyễn Như Tiệp – Cục trưởng Cục Quản lí chất lượng nông lâm sản và thủy sản cũng thừa nhận: Mô hình RAT mới đến người bán buôn nhưng chưa đến được người bán lẻ. “NTD ra chợ mới chỉ nghe nói rau này lấy từ nguồn Văn Đức chứ không có gì để chứng tỏ đó là rau Văn Đức cả”. Ngoài ra, khi nhãn RAT lấy được lòng tin của NTD, người kinh doanh sẵn sàng lột nhãn ra, cho rau khác vào hoặc tự làm nhãn.

Để tránh tình trạng vàng thau lẫn lộn hiện nay, theo ông Tiệp, cần siết chặt khâu quản lí theo chuỗi, trong đó tập trung vào khâu giám sát. “Cơ chế này cần có sự tham gia của nhiều bên như cán bộ nông nghiệp chuyên trách, HTX, Hội Phụ nữ … Cơ quan chức năng cũng phải tăng cường kiểm tra định kì khâu sản xuất, kinh doanh, xem việc dán nhãn có bị lạm dụng ở khâu nào hay không”, ông Tiệp cho biết.

Nhìn lại chặng đường phát triển của RAT thì việc gắn tem, dán nhãn không phải là mới. Từ năm 2006, nhiều cơ sở đã phân loại và đóng gói rau theo từng mã vạch riêng trên bao bì sản phẩm. Chỉ cần nhấp chuột trên máy tính, mọi thông số từ người trồng, người đóng gói, khách hàng, thời gian bán … đều được hiển thị rõ ràng. Tuy nhiên, sự phát triển của RAT hiện nay đang đi theo chiều hướng ngày càng rối.

Theo quyết định số 67-1998/QĐ-BNN-PTNT ngày 28/4/1998 của Bộ NN-PTNT, RAT là những sản phẩm rau tươi (bao gồm tất cả các loại rau ăn: Lá, thân, củ, hoa, quả, hạt, các loại nấm thực phẩm …) được sản xuất, thu hoạch, sơ chế, bao gói, bảo quản theo qui định kĩ thuật bảo đảm tồn dư về vi sinh vật, hóa chất độc hại dưới mức giới hạn tối đa cho phép. Qui trình sản xuất RAT được qui định chặt chẽ từ đất trồng, phân bón, nước tưới, kĩ thuật canh tác… và được kiểm tra định kì hoặc đột xuất. Kỹ thuật canh tác RAT qui định không được sử dụng các loại giống rau biến đổi gien khi chưa có giấy chứng nhận an toàn sinh học. Việc bón phân phải sử dụng đúng chủng loại, liều lượng, thời gian bón và cách bón theo qui trình trồng trọt RAT cho từng loại rau; riêng phân đạm phải bảo đảm thời gian cách li trước khi thu hoạch ít nhất 10 ngày và ít nhất bảy ngày đối với phân bón lá. Kĩ thuật phòng chống sâu bệnh khuyến khích tối đa các phương pháp thủ công, hạn chế sử dụng thuốc hóa học. Trường hợp cần thiết sử dụng thuốc hóa học phải tuân thủ nguyên tắc về chủng loại, liều lượng, kĩ thuật và thời gian đối với từng loại rau. Việc thu hoạch rau phải đúng thời điểm để đảm bảo năng suất, chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm. Rau sau khi thu hoạch phải được bảo quản bằng biện pháp thích hợp để giữ được hình thái và chất lượng của sản phẩm. Các sản phẩm RAT trước khi lưu thông trên thị trường phải đảm bảo các điu kiện chặt chẽ như: Giấy chứng nhận RAT, có bao gói thích hợp để đảm bảo chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm, trường hợp không thể bao gói kín phải dùng dây buộc hoặc phải dùng dụng cụ chuyên dùng để thuận lợi cho khâu vận chuyển, bảo quản và tiêu thụ; có nhãn hàng hóa gắn lin với bao gói, dây buộc hoặc gắn trực tiếp vào từng sản phẩm”.

…………………………..

“Kinh doanh rau sạch Việt Nam đang phát triển theo hướng nào?

Từ năm 2006, chúng ta đã thấy các cơ quan truyền thông đại chúng nói về việc kinh doanh rau sạch theo hướng chuyên nghiệp hóa, mở rộng vùng canh tác (Báo Tiền Phong, 17/10/2006).

Thực tế “rau sạch”

Ví dụ như niềm hi vọng vào năm 2008, Hà Nội sẽ có 80% diện tích sản xuất rau an toàn, theo định hướng của UBND Hà Nội. Để làm việc này, những công việc cần làm có thể thấy ngay là: Qui hoạch, xây dựng những vùng rau sạch; có qui trình quản lí một cách hệ thống, chỉ đạo sản xuất; xây dựng hệ thống tiêu thụ – chế biến – phân phối; thiết lập hệ thống trung tâm phân tích kiểm định chất lượng rau.

Như vậy, rau an toàn là hàng hóa thương phẩm có chứng nhận rau sạch hẳn hoi. Chứng nhận an toàn là cho cả một hệ thống từ vùng sản xuất tiêu chuẩn, cơ sở sơ chế đảm bảo điều kiện làm việc và hệ thống phân phối trung thực. Ước mong của Hà Nội cũng khiêm tốn thôi, là tới 2008 thì sẽ kiểm soát được chất lượng theo tiêu chuẩn cho 100% sản phẩm rau được tuyên bố là an toàn khi đưa ra thị trường trước khi tới các hộ gia đình. Ước tính như của Hà Nội thì chỉ khoảng 100 héc-ta hiện nay là vùng sản xuất rau sạch. Ngành kinh doanh này hiển nhiên còn nhiều tiềm năng, vì hiện tại mới chỉ đáp ứng chưa tới 10% nhu cầu tiêu dùng rau của các hộ gia đình Hà Nội.

Ở lân cận Hà Nội thì sao? Báo chí Bắc Ninh (tỉnh nằm sát Hà Nội, có thành phố Bắc Ninh được xem là đô thị vệ tinh gần và phát triển nhất của Hà Nội) cũng đã nhắc tới xây dựng thương hiệu cho rau an toàn từ tháng 3/2006. Đó là ông Nguyễn Đức Ngọc ở thôn Niềm Xá, phường Kinh Bắc. Nhưng ông phải sử dụng đất của mình và thuê thêm ruộng của hơn 30 hộ nông dân khác thì mới có được 6.800 mét vuông đất màu đưa vào gieo trồng các loại rau an toàn, rau sạch mang thương hiệu “Ánh Dương.” Thực tế, đây cũng là diện tích rất bé, chưa tới một héc-ta. Một số người cũng bắt đầu thử mô hình, nhưng là người đi tiên phong và mạnh mẽ, diện tích của ông còn hạn chế thì xem ra để có những diện tích canh tác lớn xung quanh Hà Nội quả là một thách thức.

Tình hình ở TP.HCM cũng không khác biệt bao nhiêu. Rau ở TP.HCM phần nhiều được cung cấp từ Đà Lạt, là nơi có khí hậu và thổ nhưỡng phù hợp với việc trồng trọt. Ở Đà Lạt cũng có nhiều công ty kinh doanh rau, hoa quả. Nhưng sản lượng có thể gọi là sạch cũng khá hạn chế, bởi lẽ ngay diện tích trồng cũng đã hạn chế. Trồng rau an toàn theo qui chuẩn cao cấp thì cũng cần đầu tư không ít.

Như thông tin của Liên minh các Hợp tác xã và Doanh nghiệp ngoài quốc doanh Đà Lạt thì cơ sở tương đối có tiếng như HTX Xuân Hương, tại Phường 9, Đà Lạt, được xem là cung ứng lượng rau lớn cho TPHCM thì có 21 hộ xã viên và 34 lao động chính, canh tác 5 ha, trung bình mỗi hộ xã viên canh tác 3 – 5 sào (sào: 1.000 m2). Vào đầu năm 2007, sản lượng trung bình rau sạch HTX này có thể cung cấp cho doanh nghiệp và siêu thị tại Sài Gòn chỉ dao động quanh 2 tấn rau xanh như xà lách, ớt, rau mùi … Giá bình quân 6.000 – 8.000 đồng/kg, có sản phẩm 10.000 đồng/kg, mỗi năm đạt 400 – 500 tấn, thu nhập 1,5 – 2 tỉ đồng. Nói thế nào thì đây cũng là những con số rất nhỏ cho thị trường hơn 10 triệu người dân ở TP.HCM.

Cái khó để phát triển thành một “công nghệ sản xuất rau an toàn”

Chúng ta ai cũng phải ăn rau. Ăn rau cũng thật nhiều lợi ích, nhưng rau phải sạch vì ai cũng lo sợ dư lượng thuốc trừ sâu, các hóa chất tiềm tàng có thể gây ung thư, mà trực tiếp nhất là nhiều vụ ngộ độc thức ăn tập thể khi sản xuất các suất ăn đại trà trở nên phổ biến.

Cái tốn kém đầu tư cho rau an toàn nằm ở việc ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất với nhà nilon, hệ thống tưới phun và kĩ thuật chăm sóc bón phân, phòng trừ sâu bệnh đều theo qui trình sản xuất rau an toàn, rau sạch. Tất cả đều cần đầu tư. Với một ngành nông nghiệp, chịu nhiều tác động của thời tiết và rủi ro khác, chúng ta không dám mơ tưởng tới sự bùng nổ của “nông nghiệp sạch”. Để sản xuất rau sạch, các nhà kinh doanh nông nghiệp phải nghiên cứu, tìm hiểu tình hình thực tế, và học công nghệ sản xuất từ các Viện nghiên cứu rau quả có tiến bộ khoa học kĩ thuật. Chọn giống rau có năng suất tốt và chất lượng cao cũng phải học. Việc duy trì niềm tin của thị trường và hệ thống phân phối cũng vất vả lắm – cả một chiến lược. Riêng việc thực hiện nghiêm ngặt qui trình phòng trừ dịch hại tổng hợp (IPM) cũng mất rất nhiều công sức. Nhà kinh doanh còn phải làm công việc của các chuyên gia côn trùng học không chuyên để hiểu rõ chu kì sinh trưởng – phát triển của mỗi loại côn trùng để có phương pháp ngăn chặn, đẩy lùi các loại bọ có hại. Cái mà tiến sĩ Phan Kế Long của SAGA chúng ta trình bày ở Dak Lak về khai thác những thiên địch (côn trùng có lợi) cho cây nhằm tạo phương tiện bảo vệ mùa màng sinh học cũng được các nhà nông – kinh doanh nghiên cứu!! Thật là đáng ngạc nhiên. Đầu tư cũng không hề ít tiền. Chỉ việc theo dõi lí lịch cây trồng cũng ngốn cơ man nào là công sức. Doanh thu trên một héc-ta đầy mồ hôi, công sức, rủi ro và suy tư đó là 70 triệu đồng/năm trở lên. Cao gấp 4 lần so với phương pháp trồng rau thông thường, tốt cho sức khỏe, nhưng so với các ngành kinh doanh khác thì thu nhập từ nông nghiệp thực sự không làm cho các nhà đầu tư mặn mà. Phần nào là vì một phần chi phí công sức đã chưa hạch toán đầy đủ theo phương thức hạch toán công nghiệp.

Sự ủng hộ “có điều kiện” của xã hội

Việc sản xuất rau đảm bảo an toàn rõ ràng rất có ích. Vì thế, xã hội (bao gồm rất nhiều hộ gia đình tiêu thụ rau) ủng hộ là chuyện dễ hiểu. Vấn đề là sự ủng hộ đó có điều kiện, và một phần quan trọng của điều kiện ấy là niềm tin. Chúng ta đồng ý là có Ánh Dương, có Xuân Hương và có rau sạch của những nhà sản xuất này. Nhưng cái nào ở cửa hàng là của họ, chúng ta không biết.

Ngày 26/8/2007, kênh thời sự VTV1 lại đưa tin về việc thương hiệu rau sạch Vân Nội, Đông Anh, Hà Nội bị ảnh hưởng nghiêm trọng do các “Cửa hàng rau sạch” lại bán rau không nguồn gốc, và tất nhiên cũng không lấy gì làm sạch. Với giả thiết hành vi tiêu dùng hợp lí, không ai bỏ tiền gấp 4 để mua một thứ mà không biết chắc có phải thứ mình cần tìm!

Vậy thì số phận ngành sản xuất rau an toàn có vẻ như đang nằm một phần quan trọng trong tay hệ thống phân phối. Và một lần nữa, chúng ta có thể thấy rằng, hệ thống phân phối tác động mạnh mẽ tới số phận cả một ngành kinh doanh như thế nào.

Kể cả một siêu thị lớn thì việc tin vào chất lượng cũng rất cần có điều kiện và cẩn trọng. Tôi từng biết siêu thị mua táo Trung Quốc, rồi ngồi dán mác “nhập khẩu từ Australia” khá “hớ hênh” chứ không lấy gì làm kín đáo cho lắm. Tất nhiên giá gấp 3 – 4 lần. Một hệ thống tiêu chuẩn chất lượng đang hiện diện trên thị trường và lựa chọn của các bà nội trợ vẫn dựa vào một yếu tố truyền thống: Niềm tin được xây dựng trên mối quan hệ sẵn có và đã từ lâu với những người bán rau lẻ ngoài chợ.

Như vậy, chuyện của hệ thống phân phối và niềm tin tiêu dùng không thể đùa. Bây giờ những câu chuyện kiểu như quản lí của Wal-Mart sẽ xảy ra ngay ở tại Việt Nam, không còn xa xôi gì nữa”.

Kết luận: Tìm ra được kĩ thuật trồng rau sạch đạt chất lượng, hiệu quả cao, chi phí thấp … là chuyện khó; xây dựng được niềm tin trong khách hàng còn khó hơn. Khi mà thị trường rau sạch đang còn bỏ ngõ mà bạn không làm thì đợi đến bao giờ mới làm đây?

3. Điều kiện cần và đủ:

Sau đây là những điều kiện tối thiểu cần và đủ để bạn có thể thực hiện thành công ý tưởng này:

+ Bạn cần có số vốn khoảng 100 – 200 triệu VND. Số vốn này chủ yếu dùng để đầu tư giám sát kĩ thuật, thu mua, phát triển mạng lưới phân phối rau sạch, lập trang web, quảng cáo, giao dịch …

+ Bạn phải nắm được kĩ thuật kinh doanh mô hình này.

+ Bạn phải kiên nhẫn đủ để theo đuổi ý tưởng.

+ Bạn phải am hiểu về internet, thiết kế web, logo, slogan, banner và có khiếu chọn hình ảnh, viết bài đăng trên web.

+ Bạn phải là người có khiếu giao tiếp, nhạy bén, sáng tạo, cần cù …

+ Bạn phải là người cầu tiến, chu toàn, quản lí chặt chẽ tiền bạc …

4. Khó khăn và thuận lợi: 

Kinh doanh bất cứ lĩnh vực nào cũng có khó khăn và thuận lợi, nếu như bạn cảm thấy mình không thể vượt qua những khó khăn liệt kê dưới đây thì tốt nhất không nên chọn thực hiện ý tưởng này. Sau đây là một số khó khăn và thuận lợi điển hình khi bạn quyết định theo đuổi ý tưởng này:

Khó khăn:

+ Về kĩ thuật kinh doanh: Khi nghĩ ra ý tưởng tác giả đã nghĩ ra kĩ thuật kinh doanh để thành công với mô hình này, do đó bạn nên liên hệ với tác giả để biết cách thực hiện.

+ Về việc lập web: Nhiều người cứ cho rằng lập web không có gì khó, thật ra để có một trang web thú vị lôi cuốn khách hàng là điều không hề dễ dàng. Ngoài cách trình bày, chọn lọc hình ảnh, nội dung … thì khó khăn nhất chính là viết bài. Người quản lí web phải viết bài sao cho thật hay, ý nghĩa, phù hợp tâm lí người đọc, đúng đắn, thiết thực … Bạn phải biết rằng đối tượng khách hàng của bạn là ai để khi viết bài bạn phải nêu bật lí do tại sao họ nên chọn sản phẩm, dịch vụ của bạn. Vấn đề này tưởng đơn giản nhưng lại rất khó đối với những ai không có khiếu văn chương.

+ Về việc quản lí tiền bạc: Để làm nên sản nghiệp lớn bạn phải học cách quản lí chặt chẽ tiền bạc, đây là một yêu cầu không thể thiếu ở người làm giàu.

+ Về việc tuyển dụng, quản lí nhân sự: Đừng coi thường tính chuyên nghiệp ngay từ đầu. Nhân viên phải có những đức tính giống người chủ, phải siêng năng, có đạo đức nghề nghiệp … Đối với những bạn đã từng đứng ở cương vị quản lí có những hiểu biết nhất định về nghiệp vụ nhân sự thì không nói làm gì, nhưng đối với những bạn mới ra đời khi đứng ở cương vị quản lí sẽ rất lúng túng. Cái gì cũng phải học, rèn luyện từ từ, nếu có quyết tâm thì bạn sẽ làm tốt thôi.

Thuận lợi:    

+ Đây là một ý tưởng kinh doanh khả thi, thiết thực.

+ Vốn đầu tư ít, lợi nhuận cao, nhu cầu nhiều.

+ Rủi ro thấp.

+ Bền vững.

+ Qui mô mở rộng không ngừng.

5. Cách thức chuẩn bị và thực hiện:

Liên hệ Chat Master Club qua địa chỉ E-mail bên dưới để được hướng dẫn cụ thể:

chatmasterclub@yahoo.com

6. Duy trì và phát triển:

Liên hệ Chat Master Club qua địa chỉ E-mail bên dưới để được hướng dẫn cụ thể:

chatmasterclub@yahoo.com

 

Chat Master Club

16/05/2013

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s