Ý tưởng khai thác cây chuối

1. Ý tưởng:

Chuối là tên gọi các loài cây thuộc chi Musa; trái của nó là trái được ăn rộng rãi nhất. Những cây này có gốc từ vùng nhiệt đới ở Đông Nam Á và Úc. Ngày nay, nó được trồng khắp vùng nhiệt đới. Chuối được trồng ít nhất ở 107 quốc gia. Có thể cắt chuối thành lát mỏng sau đó đem chiên hay nướng để ăn giống như khoai tây, còn chuối khô được nghiền thành bột … Mặc dù những quả chuối dại có nhiều hột lớn và cứng, nhưng hầu hết loại chuối được buôn bán để ăn không có hột. Có hai hình thức ăn chuối cơ bản: Ăn khi chín và còn xanh. Hầu hết chuối được xuất khẩu dùng để ăn khi chín; tuy nhiên, chỉ khoảng 10 – 15% tổng sản lượng chuối được xuất khẩu. Hoa Kì và các nước trong Liên minh châu Âu nhập khẩu chuối nhiều nhất.

Chuoi 01

Cây chuối thuộc về họ Chuối. Nó được trồng chủ yếu để lấy trái, ở mức độ ít hơn là thân và để trang trí. Vì cây thường mọc lên cao, thẳng, và hơi vững, nó thường bị lầm lẫn với thân cây thật. Thân giả của một số loài có thể cao tới 2 – 8 m, với lá kéo dài 3,5 m. Mỗi thân giả có thể ra một buồng chuối màu vàng, xanh, hay đỏ trước khi chết và bị thay bằng thân giả mới.

Buồng chuối có từ 3 – 20 nải, nặng khoảng 30 – 50 kg. Mỗi nải có thể có tới 20 quả. Một quả trung bình nặng 125 gram, trong số đó vào khoảng 75% là nước và 25% là chất khô. Mỗi quả có vỏ bên ngoài và thịt chuối bên trong. Vỏ và thịt chuối đều ăn được ở dạng tươi hay đã qua chế biến (nấu). Những người phương Tây thường ăn thịt chuối còn tươi và vứt vỏ, trong khi một số nước Á Đông nấu rồi ăn cả vỏ và thịt. Quả chuối thường có nhiều sợi (gọi là bó libe) nằm giữa vỏ và thịt chuối. Chuối chứa nhiều vitamin B6, vitamin C và kali.

Cây chuối có thân giả lên tới 6 – 7,6 m, mọc lên từ một thân ngầm. Lá chuối ra theo hình xoắn và có thể kéo dài 2,7 m và rộng 60 cm. Cây chuối là loài thân thảo lớn nhất. Hoa chuối thường lưỡng tính, đầu hoa thường ra một hoa đực riêng, không sinh sản, còn được gọi là bắp chuối, nhưng đôi khi có thể ra thêm – một thân cây chuối ở Hinigaran, Negros Occidental, Philippines ra năm hoa. Bắp chuối được dùng như rau ở Đông Nam Á; nó được hấp, trộn salad, hoặc ăn sống … Các hoa cái ở trên hoa đực và không cần được thụ phấn để tạo quả chuối.

Chuối được thuần hóa ở Đông Nam Á. Nhiều loài chuối dại vẫn còn mọc lên ở New Guinea, Malaysia, Indonesia, và Philippines. Gần đây, di tích về khảo cổ học và môi trường cổ tại đầm lầy Kuk ở tỉnh Cao nguyên Tây, Papua New Guinea gợi ý rằng chuối được trồng ở đấy bắt đầu trễ nhất năm 5.000 TCN, nhưng có thể từ năm 8.000 TCN. Vụ khám phá này có nghĩa rằng cao nguyên New Guinea là nơi mà chuối được thuần hóa đầu tiên. Có lẽ những loài chuối dại khác được trồng ở những vùng khác tại Đông Nam Á.

Một số vùng cô lập ở Trung Đông có thể nuôi chuối từ thời gian trước khi Hồi giáo ra đời. Có chứng cớ trong văn kiện rằng nhà tiên tri Muhammad biết ăn nó. Sau đó, văn minh Hồi giáo trải ra nhiều nước, và chuối đi theo. Những văn kiện Hồi giáo (như là bài thơ và truyện thánh) nói đến nó nhiều lần, bắt đầu từ thế kỷ 9. Vào thế kỷ 10, những văn kiện Palestine và Ai Cập đã nói đến chuối; từ đấy, chuối lan qua Bắc Phi và Tây Ban Nha Hồi giáo. Thực tế là vào thời Trung cổ, chuối từ Granada (Tây Ban Nha) được coi là những chuối ngon nhất trong thế giới Ả Rập. Các phytolith được khám phá trong một số cây chuối hóa thạch ở Cameroon từ thiên niên kỉ một TCN đã gây ra cuộc tranh luận về lúc bắt đầu trồng cây chuối ở châu Phi. Có chứng ngôn ngữ học rằng người Madagascar đã biết về chuối vào lúc đó. Trước các khám phá này, chứng cớ sớm nhất về sự trồng chuối ở châu Phi có từ cuối thế kỉ 6 CN về sau. Người Hồi giáo Ả Rập chắc buôn chuối từ bờ biển đông của châu Phi đến bờ biển Đại Tây Dương và về phía nam tới Madagascar. Năm 650, quân đội Hồi giáo mang chuối đến vùng Palestine.

Nhìn chung, cây chuối rất hữu ích đối với đời sống của con người. Từ quả, hoa, thân, lá, củ … chuối chúng ta đều có thể tận dụng. Vậy tại sao chúng ta không tìm ra cách khai thác cây chuối hiệu quả hơn nữa để phục vụ cho cuộc sống của mình?

Ý tưởng “khai thác cây chuối” để làm giàu như sau: Chúng ta sẽ trồng những loại chuối ngon nhất trên mảnh đất mình có. Thông qua việc phát triển những kĩ thuật đã tiếp thu  chúng ta sẽ cho ra những quả chuối có giá trị rất cao (cả về chất lượng, số lượng lẫn hình thức). Về quả: Chúng ta sẽ phát triển thêm nhiều sản phẩm mới từ quả chuối (bao gồm cả quả chín lẫn quả xanh). Về hoa: Chúng ta sẽ cho ra những món ăn ngon từ hoa chuối. Về thân: Chúng ta sẽ dùng thân chuối để chế biến thành phân bón hữu cơ, thức ăn gia súc và các sản phẩm thủ công tinh xảo. Về lá: Chúng ta sẽ nghiên cứu làm các loại hộp đựng thức ăn từ lá chuối bỏ cho các siêu thị, cửa hàng …

Có thể nói cây chuối là loại cây chiến lược. Nó giúp xóa đói giảm nghèo, phát triển bền vững. Chọn cây chuối để làm giàu khi mình có hoàn cảnh, điều kiện thích hợp là lựa chọn sáng suốt.

2. Hoàn cảnh khách quan:

“Đến nay một năm nguồn thu từ chuối mang lại cho người dân xã Tân Long từ 20 đến 25 tỉ đồng. Ngược đường 9 Nam Lào, qua khu vực Làng Vây chúng tôi không khỏi ngỡ ngàng trước một màu xanh bạt ngàn của chuối trải dài trên các dãy đồi núi … thuộc địa phận của xã Tân Long, huyện Hướng Hóa (Quảng Trị). Ở đây cây chuối vốn quen thuộc đã trở thành cây hàng hóa chủ lực của xã xuất khẩu ra nước ngoài, không những thế cây chuối ở đây còn góp phần xóa đói giảm nghèo và từng bước đưa hàng trăm hộ dân ở vùng cao biên giới trở thành “triệu phú” chuối …

Đi lên từ chuối

Tân Long là xã miền núi có diện tích đất tự nhiên 1.950 ha, dân số 898 hộ gia đình với 3.803 nhân khẩu, trong đó có hai bản đồng bào dân tộc thiểu số, đó là bản Xinuc và Làng Vây. Những năm trước đây địa bàn xã sản xuất nông nghiệp chủ yếu là trồng lúa nương rẫy, sắn, ngô … tuy nhiên sản lượng thu lại không đáng kể nên đời sống phần lớn người dân ở đây rất khó khăn. Đứng trước tình hình chung đó từ năm 1993 xã Tân Long đã có nghị quyết với chuyên đề mới nhằm chuyển đổi cây trồng vật nuôi, đưa nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa. Bên cạnh cây lúa, sắn … ra còn chú trọng trồng thêm 3 loại cây, đó là mía, gừng và chuối. Đến năm 1997, năng suất từ cây mía và gừng không đem lại hiệu quả, thị trường tiêu thụ quá hẹp chỉ còn lại cây chuối mang lại hiệu quả kinh tế cao. Vì lẽ đó cây chuối không ngừng được mở rộng diện tích hàng năm. Đến 2008, cây chuối Tân Long thực sự có vị thế trên địa bàn và dần trở thành thương hiệu. Người ta biết đến chuối Tân Long với chất lượng sản phẩm tốt như trái to, đều, ngon và đặc biệt là có thể để lâu mà không hề bị thâm đen, khi chín chuối vàng rực, ngọt … Cũng chính vì thế nên chuối Tân Long đã làm các bạn hàng đặc biệt là bạn hàng Trung Quốc “xiêu lòng” và đây cũng chính là nơi bao tiêu với số lượng lớn.

Từ khi có được thị trường tiêu thụ đều đặn, giá thành cao, ổn định từ phía Trung Quốc, cây chuối ở xã Tân Long nói riêng và các xã ở vùng biên giới huyện Hướng Hóa nói chung đã thực sự có lối thoát. Bên cạnh thị trường xuất khẩu ra, chuối ở đây còn có mặt ở một số tỉnh thành trên cả nước như: Nghệ An, Huế, Quảng Bình, Đà Nẵng, Quảng Ngãi … Đến nay một năm nguồn thu từ chuối mang lại cho người dân xã Tân Long từ 20 đến 25 tỉ đồng. Có được thu nhập cao từ cây chuối, đời sống vật chất cũng như tinh thần của người dân nơi đây thay đổi rõ rệt. Chỉ tính riêng hai bản Xinuc và Làng Vây nếu như trước đây người dân quanh năm chỉ biết đốt rẫy trồng lúa, trồng sắn với phương thức rày đây mai đó thì hiện nay, màu xanh của chuối đã được phủ trải dài. Tỉ lệ hộ nghèo giảm mạnh, 100% hộ đã mua sắm được các phương tiện nghe nhìn, phần lớn họ đã mua sắm được xe máy làm phương tiện đi lại cũng như vận chuyển chuối, nhiều gia đình mua được máy phát cỏ dần thay thế sức lao động con người. Những lớp nhà sàn bằng gỗ hoặc nhà xây kiên cố theo hình thức nhà của người dân tộc dần mọc lên, đó cũng chính là dấu hiệu của sự thoát nghèo ở nơi đây. Ở họ dần thay đổi suy nghĩ, tập quán canh tác từ thô sơ đến hiện đại, càng ngày họ tiến tới kinh tế trang trại độc canh cây chuối …

“Đại gia” chuối!

Theo ông Đỗ Văn Hóa – Phó Chủ tịch xã Tân Long cho biết người dân nơi đây với nguồn thu nhập từ chuối là khá cao, có nhiều hộ gia đình thu nhập từ 600 – 700 triệu đồng/năm, thậm chí có nhiều gia đình có thời điểm thu được trên một tỉ. Điều đó càng khẳng định việc chuyển đổi cây trồng ở đây mà cụ thể là cây chuối thực sự là một việc làm đúng đắn mà chi bộ xã Tân Long đã dày công nghiên cứu. Từ việc trồng chuối và không ngừng mở rộng diện tích trồng, trong xã bắt đầu xuất hiện nhiều “đại gia” chuối. Anh Nguyễn Dương Phước ở thôn Long Phụng với diện tích trồng gần 50 ha thu nhập hàng năm của anh từ cây chuối trên 500 triệu đồng. Hay như anh Đoàn Văn Trang ở thôn Long Hợp cũng thu nhập từ 600 – 700 triệu đồng/năm từ cây chuối … Có thể thấy rằng cho đến nay Tân Long với việc chuyển đổi cây trồng hợp lí đã làm cho địa bàn ngày càng xuất hiện nhiều triệu phú. Họ đã sớm nắm bắt được thời cuộc và vươn lên làm giàu bằng chính sức lao động của mình. Từ những chủ trương đúng đắn, việc đồng loạt đưa cây chuối lên vùng đồi, rẫy, đã tạo ra nguồn nông sản mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân nơi đây. Và cũng chính từ đó cây chuối đã trở thành cây trồng chủ lực không chỉ cung cấp lượng chuối lớn cho các tỉnh thành trong nước mà còn mở rộng ra thị trường nước ngoài, đồng thời từng bước tiến tới hiện thực hóa ước mơ gây dựng thương hiệu “chuối Tân Long””.

…………………….

“Các nhà khoa học Bộ môn CNSH, Viện Nghiên cứu rau quả đã chuyển giao công nghệ trồng chuối tiêu hồng ở vùng đất bãi ven sông Hồng thuộc huyện Văn Giang, Khoái Châu (Hưng Yên). Ông Lưu Tuấn Tú, Phó ban Tuyên huấn Hội Nông dân Hưng Yên cho biết: Năm 2006 Trung tâm ứng dụng TBKT (Sở KH – CN Hưng Yên) phối hợp với Viện Nghiên cứu rau quả triển khai mô hình trồng thử nghiệm chuối tiêu hồng bằng công nghệ nuôi cấy mô tại vùng đất bãi cho kết quả rất tốt, hiệu quả kinh tế cao gấp 3 – 4 lần so với các cây trồng khác. Chỉ tính riêng các xã, phường vùng bãi ven sông Hồng ở TP Hưng Yên đã chuyển đổi được gần 100 ha  ngô, đay hiệu quả kinh tế thấp sang trồng chuối. Trung bình mỗi năm một sào chuối bỏ vốn và công chăm sóc hết khoảng 1,5 triệu đồng, cho thu lãi từ 10 – 15 triệu đồng (từ 300 – 350 triệu đồng/ha/năm). Do lãi cao nên nhiều hộ đã xây dựng  trang trại chuyên canh chuối tiêu hồng rộng hàng chục mẫu, mỗi năm cho thu nhập hàng tỉ đồng. Điển hình là anh Nguyễn Văn Cường, phường Lam Sơn, ông Nguyễn Văn Quang, phường Hiến Nam TP Hưng Yên; anh Phạm Năng Thành, xã Đại Tập, huyện Khoái Châu … Chủ trương của tỉnh là nhanh chóng mở rộng diện tích, đưa cây chuối tiêu hồng trở thành cây hàng hóa, cây mũi nhọn trong SXNN để tiến tới xây dựng thương hiệu cho chuối tiêu hồng đất bãi Hưng Yên.

Anh Phạm Năng Thành cho biết, anh đang thuê 30 mẫu đất với giá 1,5 triệu đồng/sào để trồng chuối tiêu hồng thời hạn 10 năm. Mỗi năm đầu tư hết một tỉ đồng, doanh thu 2 tỉ. Ngoài trồng chuối, anh còn nhân giống cung cấp cho bà con trong vùng, đồng thời sắm thêm phương tiện để tiêu thụ trên 200 tấn chuối/năm, tạo việc làm ổn định cho 10 lao động.

Nói về kinh nghiệm trồng chuối, anh Thành cho hay: Ưu điểm của giống chuối nuôi cấy mô là dễ trồng, cây sinh trưởng, phát triển mạnh, ít sâu bệnh, nhanh cho thu hoạch và cho lãi cao hơn hẳn chuối thường. Muốn cho chuối có mẫu mã đẹp, chất lượng tốt, bán được giá cao phải thường xuyên giữ ẩm, đánh thuốc chống sương, tỉa bỏ bớt cây con chỉ giữ lại mỗi gốc một cây khỏe mạnh để thay thế cây mẹ và dùng bao nilon để bao cả buồng. Trồng một năm thu 2 – 3 lứa quả rồi phá bỏ để trồng lại nhằm tránh bệnh thối gốc, thối rễ do tuyến trùng. TS. Trần Ngọc Hùng, Trưởng Bộ môn CNSH, Viện Nghiên cứu rau quả cho biết: “Đây là giống chuối đặc sản của nước ta có nguồn gốc từ xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam, được chúng tôi tuyển chọn, phục tráng và nhân giống thành công bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào. Giống đã được Bộ NN – PTNT công nhận và cho phép SX trên diện rộng”. Tiêu hồng thuộc nhóm chuối tiêu vừa, thân giả cao 2,1 – 2,5 m, sinh trưởng khỏe, lá xanh sáng, bản lá rộng, số lá hoạt động khi trỗ buồng thường đạt từ 10 – 12 lá. Buồng hình trụ, bình quân có 10 – 12 nải, nặng khoảng 45 kg/buồng. Là giống cho năng suất cao, trung bình đạt 40 – 45 tấn/ha. Khi chín vỏ quả có màu vàng sáng đẹp nhưng cuống quả vẫn còn xanh, thịt quả rắn, ăn ngọt và thơm, đáp ứng thị hiếu người tiêu dùng nên bán được giá cao”.

………………………

“Chàng trai làng Đoàn Trang sinh năm 1976, ở thôn Long Hợp, xã Tân Long, huyện Hướng Hóa, Quảng Trị. Ngày anh lên 2 tuổi, mọi người rất kinh ngạc khi mới ngần ấy tuổi anh đã biết đọc. “Ngày đó, tui bận đi rẫy nên gửi con bên nhà người em. Một hôm đi làm về tui giật mình khi thấy nó cầm tờ báo cũ đọc bi bô thành tiếng …” – bố anh, ông Đoàn Giá nhớ lại. Gia đình ông Giá vừa mừng vừa lo vì sự phát triển kì lạ của đứa con trai út. Đến năm lên 4 tuổi, người anh Trang tự dưng phì lên, đến nỗi “quần áo của người anh trai hơn tới mấy tuổi nó mặc vẫn chật” – ông Giá kể. Năm học lớp 4, Trang lại bị một trận sốt ác tính dữ dội khiến anh phải nghỉ học từ đó.

Trang lấy vợ rất sớm, năm 18 tuổi. Có vợ, có con Trang bắt đầu chí thú làm ăn. Khi chưa ai nghĩ đến việc làm giàu từ cây chuối thì năm 1998, Trang vay mượn mua một chiếc xe Minsk của Liên Xô cũ để làm một tay buôn chuối. Hai vợ chồng anh đã chạy khắp các bản làng của huyện vùng cao này để tìm những buồng chuối ngon, đẹp về bán lại cho thương lái kiếm lời.

Đầu năm 2001, vợ chồng anh “rủ” thêm bố ruột là ông Giá vác ba con rựa lên đồi cao để khai hoang. Chỉ có một chút tiền “còm” dành dụm bất lâu nay, lại chưa có kinh nghiệm nên anh chỉ thử sức với 600 gốc chuối. Sau mấy vụ đầu kha khá, anh lập tức vay vốn để đầu tư mạnh vào cây chuối. Bằng cách thuê đất để trồng chuối tính đến nay diện tích đất trồng chuối của anh Trang đã là 15 ha (4 quả đồi) với 8.000 gốc chuối cho thu hoạch quanh năm. Anh Trang đã trở thành người có diện tích trồng chuối nhiều và thành công nhất nhì xã. Nhìn ngôi nhà khang trang, nội thất hoành tráng của anh, nhiều người phải giật mình với những gì cây chuối đã mang lại cho gia đình chàng trai mới 34 tuổi này. Trang bày tỏ: “Hiện nay mỗi năm tui thu về độ chừng trên dưới 500 triệu nhờ cây chuối, so với thu nhập ở đây đã là cao nhưng tui vẫn đang có một ước mơ và đang gấp rút thực hiện là sang Lào thuê đất để trồng chuối …””.

………………………..

“(BLC) – Đến xã Huổi Luông (huyện Phong Thổ) hỏi ai cũng biết anh Trang A Xà (39 tuổi), dân tộc Hà Nhì ở bản Huổi Luông 3 là một trong những điển hình của xã về chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đầu tư kinh doanh hiệu quả.

18 tuổi anh Xà xây dựng gia đình. Với 2,5 ha đất trồng ngô, lúa nhưng do sử dụng giống địa phương; chưa áp dụng khoa học kĩ thuật trong chăm sóc, phòng chống sâu bệnh nên không chỉ năng suất thấp, có năm còn mất trắng do thiên tai, hạn hán, do đó cuộc sống rất vất vả. Năm 2009, gia đình anh được Đồn Biên phòng Huổi Luông lựa chọn thực hiện thí điểm mô hình trồng chuối tây xuất khẩu. Bố mẹ anh nhất định không đồng ý bởi cho rằng trồng ngô, lúa còn có cái mà ăn chứ lấy đất trồng chuối rồi thì lấy đâu ra lương thực. Sau nhiều lần cán bộ biên phòng tuyên truyền, phổ biến lợi ích của việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mang lại hiệu quả kinh tế cao, bố mẹ anh Xà đã đồng ý để vợ chồng anh thực hiện mô hình với diện tích một ha đất ruộng. Năm đầu, chuối bán với giá từ 17 – 19 nghìn đồng/kg, gia đình anh thu về hơn 300 triệu đồng. Đến năm 2010, anh Xà tiếp tục trồng thêm 2 ha chuối. Bà con trong bản thấy vậy đã đua nhau làm theo. Ngoài việc bán cây chuối giống, anh Xà còn truyền đạt kĩ thuật trồng, chăm sóc cho bà con. Tuy nhiên, khi nguồn cung dồi dào thì giá chuối cũng hạ hơn (6 nghìn đồng/kg).

Từ cây chuối đã không chỉ giúp gia đình anh Xà có của ăn của để, mà còn tạo việc làm cho nhiều gia đình trong bản, quan trọng hơn là khẳng định được cây chuối phù hợp với khí hậu, thổ nhưỡng của địa phương, giá trị kinh tế cao gấp nhiều lần so với trồng ngô, lúa. Từ tiền bán chuối, anh đã mạnh dạn đầu tư hơn 400 triệu đồng mua xe ôtô tải 3,5 tấn để thu gom chuối, nông sản (ngô, sắn) của bà con trong xã xuất khẩu qua biên giới. Cuối năm 2010, anh tiếp tục mua máy (trộn, dập khuôn) đóng gạch bi phục vụ nhu cầu xây dựng của nhân dân trong xã. Anh thuê 6 nhân công là người địa phương với mức lương 3 triệu đồng/người/tháng. Trung bình mỗi ngày, gia đình anh sản xuất 3 nghìn viên gạch, trừ chi phí, thu lãi hơn 1 triệu đồng/ngày từ tiền bán gạch. Với kết quả từ bán quả chuối, cây chuối giống và thu mua nông sản xuất khẩu qua biên giới … thu lãi hơn 500 triệu đồng/năm, giờ đây gia đình anh Xà đã xây dựng được ngôi nhà khang trang với tiện nghi sinh hoạt đắt tiền và lo cho các con học hành thành đạt. Hiện con trai đầu đang học tại Trường PTDT Nội trú tỉnh; con trai thứ học tại Trường Thiếu sinh quân (Hà Nội)”.

……………………..

“Theo các nhà nghiên cứu, nếu như hiểu biết đầy đủ về giá trị dinh dưỡng của chuối và tập được thói quen dùng chuối, loại quả này trong tương lai không xa có thể được dùng như một loại lương thực trong bữa ăn hằng ngày. Tiến sĩ Philip Thornton thuộc CGIAR cho biết, mặc dù có những yếu tố hạn chế, nhưng chuối có thể là một nông sản thay thế tốt cho khoai tây ở những khu vực nhất định. “Khi nhiệt độ tăng, chuối có thể là một lựa chọn mà chính quyền địa phương một số nơi có thể phải tính đến.

Ngày 19 tháng 12 năm 2012 vừa qua, viện nghiên cứu phát triển Kinh tế – Xã hội Hà Nội cùng viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu, phối hợp với Trung tâm phát triển cây trồng Hà Nội đã có cuộc khảo sát và trao đổi với trang trại trồng chuối của anh Trần Văn Dầu ở địa bàn xã Cổ Bi, Huyện Gia Lâm, Hà Nội, nhằm đánh giá kết quả đạt được của trang trại trong những năm vừa qua và định hướng về nông nghiệp công nghệ cao vào mô hình trồng chuối trên địa bàn thành phố Hà Nội. Đây là chương trình nằm trong kế hoạch khảo sát tình hình kinh tế tri thức trên địa bàn Hà Nội của viện nghiên cứu phát triển Kinh tế – Xã hội Hà Nội.

Trang trại của anh Trần Văn Dầu có diện tích là 25 ha, trong đó đất trồng chuối có khoảng 10 ha, còn lại là diện tích trồng cây cam canh, cây bưởi Diễn và đu đủ. Trong cuộc trao đổi anh cho biết, giống chuối Tiêu hồng anh mua tại viện nghiên cứu rau quả Hà Nội, loại chuối này cho quả đồng đều và chất lượng rất tốt, sản phẩm khi thu hoạch được các thương lái đế tận trang trại để mua và xuất khẩu sang Trung Quốc theo đường tiểu ngạch.

Giáo sư, Viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu nêu những ý kiến tập trung phát triển, thử nghiệm cây chuối tiêu hồng, vận động chính nông dân triển khai và xây dựng công nghệ trồng chuối, viện sĩ gợi ý sẽ liên kết với anh Trần Văn Dầu về việc liên kết từ khâu sản xuất đến tiêu thụ chuối với ý tưởng sẽ phát triển cây chuối phục vụ cho thị trường trong nước và quốc tế. Theo viện sĩ để làm được điều đó phải có sự liên kết 4 nhà (nhà nước, nhà khoa học, hộ nông dân và doanh nghiệp),  muốn phát triển cây chuối thì trước hết phải nghĩ đến vấn đề tiêu thụ, muốn tiêu thụ được phải có bàn tay của doanh nghiệp. Viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu hứa hẹn sẽ bắt tay vào làm thí điểm công nghệ trồng chuối tại trang trại của anh Trần Văn Dầu trong thời gian tới!”.

……………………

“Sau khi thực hiện quyết định dừng đun đốt gạch thủ công, diện tích bãi bỏ hoang trên địa bàn xã Đại Lai huyện Gia Bình khá lớn, rất khó canh tác vì có nhiều thùng, vũng, gạch vỡ, dù xã đã có chủ trương giao lại cho các hộ nông dân nhưng rất ít người dám nhận, vì nếu để trồng cây màu cần bỏ công sức và nguồn vốn rất lớn để san ủi mặt bằng. Tuy nhiên ông Hoàng Văn Huộng, thôn Trung Thành không nghĩ thế, ông cho rằng đất bãi vốn màu mỡ rất phù hợp với trồng cây chuối tây và chuối tiêu hồng. Vốn liếng gia đình khi đó có khoảng 50 triệu đồng, ông mạnh dạn nhận thầu 1,4 mẫu trên vùng đất bãi, với thời hạn giao đất 5 năm. Sau khi nhận đất ông đã quy hoạch một mẫu để trồng chuối, 4 sào còn lại diện tích bằng phẳng hơn để trồng các cây màu như cà rốt, cải ngọt, ngô lai …

Ông bố trí trồng 700 gốc chuối theo hàng lối, có hệ thống ống nước tưới từng gốc, giống chuối tiêu hồng và chuối tây được lựa chọn đưa vào trồng. Qua gần 2 năm gia đình đã bán trên 50 buồng chuối tiêu thu lãi 30 triệu đồng và từ tháng 2 – 2012, gia đình ông bắt đầu thu hoạch lứa chuối tây đầu tiên. Ban đầu mỗi tháng thu khoảng 30 buồng chuối nhưng đến tháng 5, tháng 6 chuối chín tập trung sẽ thu hoạch khoảng 50 – 60 buồng/tháng, với giá bán bình quân hiện nay khoảng 300.000 đồng/buồng thì một tháng gia đình ông thu khoảng 15 – 20 triệu đồng. Ngoài ra hoa chuối tây cũng bán được từ 4 – 5 ngàn đồng/cái, có ngày gia đình bán tại vườn tiền hoa chuối cũng được 120 ngàn đồng.

Thực tế cho thấy chuối là cây trồng phù hợp với vùng đất bãi phù sa và không đòi hỏi nhiều công chăm sóc. Cây chuối trồng khoảng 14 tháng là cho thu hoạch lứa đầu tiên, mỗi khóm có 4 cây thì những cây con chỉ sau 12 tháng là được thu hoạch. Kĩ thuật chăm sóc đơn giản, gia đình ông tận dụng nguồn rơm rạ, thân cây ngô, đỗ tương ủ phân bón cho cây mà không cần bổ sung các loại phân hóa học. Cây chuối đòi hỏi tưới đủ nước vào mùa khô, đồng thời thường xuyên cắt tỉa lá già, bỏ bớt cây con chỉ để mỗi khóm từ 3 – 4 cây, đảm bảo gốc chuối lúc nào cũng có 2 thế hệ, gồm 2 cây có buồng và 2 cây non, nếu chăm sóc tốt, một sào chuối có thể cho thu lãi trên 20 triệu đồng/năm, với diện tích một mẫu gia đình ông có thể thu 200 triệu đồng/ năm, mà hầu như không phải chi phí một khoản gì khác, ngoài bỏ công chăm sóc. Trao đổi về kinh nghiệm ông Huộng cho biết “Khi trồng phải tính toán để chuối tiêu hồng được thu hoạch bán vào dịp tết, còn chuối tây bán vào khoảng tháng 6 đến tháng 9, khi đó sẽ được giá cao, trồng chuối cũng phải lựa chọn giống tốt và phải đánh gốc sau thu hoạch để chống bệnh thối gốc làm chết cây”.

Từ kết quả bước đầu gia đình ông dự kiến sẽ nhận thêm khoảng 4 – 5 mẫu đất, mở rộng qui mô, hình thành trang trại chuyên trồng chuối theo hướng sản xuất hàng hoá, đồng thời sẽ mua thêm các con giống như ngan, gà thả trong vườn chuối tận dụng khoảng trống dưới gốc chuối góp phần tăng thu nhập”.

………………………

“Ở thôn Hoàng Hệ, xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Tường, gia đình ông Trần Văn Thắng được nhiều người biết đến nhờ thành công từ giống cây đặc sản được đem vào trồng ở vùng đất bãi – giống chuối tiêu hồng. Trang trại của ông giờ vừa là nơi nhiều người đến để học tập kinh nghiệm làm ăn, vừa là nơi khách hàng tìm đến để mua sản phẩm nông nghiệp từ cây chuối tiêu hồng do ông làm ra. 

Năm 2006, sau khi cất công nghiên cứu, tìm hiểu về giống chuối tiêu hồng do Viện nghiên cứu rau quả Trung ương nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật đem về trồng thử nghiệm trên vùng đất bãi quê mình, ông Trần Văn Thắng đã vận động gia đình chuyển đổi những loại cây trồng vốn đã gắn bó bao năm với vùng đất bãi như: Ngô, lạc, rau màu sang trồng chuối tiêu hồng. Thời gian đầu, mô hình trồng chuối tiêu hồng được ông trồng thử nghiệm trên diện tích 0,5 ha. Sau khi thu hoạch, thấy hiệu quả kinh tế cao hơn hẳn các loại cây trồng truyền thống nên gia đình ông đã tự nhân giống và nâng diện tích trồng lên một ha.

Ông Thắng cho biết: “Do giống chuối tiêu hồng được sản xuất bằng công nghệ nuôi cấy mô nên có ưu điểm hơn so với giống chuối tiêu hồng thông thường là sạch bệnh hơn, chất lượng quả ngon, thơm hơn, mẫu mã đẹp hơn, thời gian sinh trưởng ngắn, thời gian trồng chỉ từ 9 đến 10 tháng là cho thu hoạch. Quả chín có màu vàng sáng, hương vị thơm ngon, khi chín, vỏ vẫn dày và cứng  nên ít bị hư hại khi vận chuyển đi xa. Kĩ thuật trồng chuối rất đơn giản, vốn đầu tư cũng không cao. Mỗi năm một sào chuối tiêu hồng bỏ vốn và công chăm sóc khoảng 1,7 triệu đồng, cho thu lãi khoảng 5,5 triệu đồng. Trung bình, mỗi ha có thể thu lãi từ 150 – 200 triệu đồng”.  

Dẫn chúng tôi đi tham quan trang trại ngút ngàn màu xanh với những buồng chuối trĩu nặng chuẩn bị cho thu hoạch, ông Thắng vui vẻ tâm sự: “Vừa làm vừa rút kinh nghiệm, đến nay, tôi đã nắm chắc kĩ thuật và xử lí được mọi tình huống sâu bệnh, thời tiết cho cây chuối. Được chăm sóc tốt, chuối sẽ cho buồng to, quả đẹp hơn, hiệu quả kinh tế cũng sẽ cao hơn. Giờ nhiều khi thương lái tìm đến tận nơi mua còn không đủ hàng chứ không phải lo đầu ra cho sản phẩm như trước nữa”.   

Để tận dụng tiềm năng của đất, khi cây chuối còn nhỏ, ông còn trồng xen thêm một số cây ngắn ngày như lạc, đậu ở bên dưới … và chăn nuôi lợn trong chuồng. Mỗi năm, tổng doanh thu của gia đình ông đạt khoảng 200 triệu đồng. 

Năng động và sáng tạo trong sản xuất, thu được lợi nhuận cao và sẵn sàng chia sẻ, phổ biến kinh nghiệm làm vườn cho bà con trong vùng nên nhiều năm liền, ông  Nguyễn Văn Thắng được công nhận danh hiệu nông dân sản xuất kinh doanh giỏi”. 

………………………

“(Website HNDHY) – Toàn xã Đại Tập trồng 120 mẫu chuối tiêu hồng cho thu nhập khá. Tiêu biểu là hộ nông dân Phạm Năng Thành ở chi hội nông dân 1, xã Đại Tập, Anh trồng 30 mẫu, hàng năm cung ứng 200 tấn chuối đi các tỉnh miền Bắc, miền Trung, sang cả Trung Quốc và cung ứng hàng vạn cây giống cho nông dân ở địa phương và các xã lân cận.  

Từ yêu nghề nông

Hiện nay, trồng chuối cho thu nhập cao đã và đang phát triển ở một số địa phương, nhất là các xã vùng ven bãi. Tuy nhiên trồng chuối với diện tích nhiều cho chất lượng, sản lượng cao mà lại tự tìm đầu ra cho sản phẩm thì không phải hộ nông dân nào cũng làm được. Anh Phạm Năng Thành chi hội nông dân 1, xã Đại Tập (Khoái Châu) là một hộ nông dân đã làm được điều đó.

Sinh ra và lớn lên ở xã Đại Tập, tuổi thơ của anh là ruộng lúa, cánh cò bay và đàn trâu no tròn bụng khi chiều về. Anh yêu đồng ruộng và hằng ấp ủ lớn lên anh sẽ trở thành người nông dân giỏi, biết ứng dụng tiến bộ KHKT trên đồng ruộng để sản xuất nông nghiệp hiệu quả, làm giàu và cùng giúp những người nông dân ở đây thoát khỏi cảnh đói nghèo, lam lũ.

Đến chuyển đổi cây trồng

Sau nhiều ngày trăn trở, anh Thành đã quyết định mua đất, dồn điền đổi thửa trồng chuối tiêu hồng. Nhận thấy giống chuối tiêu hồng có nhiều lợi thế: Dễ trồng, phù hợp thổ nhưỡng đất bãi phù sa màu mỡ ven sông Hồng, thích nghi với điều kiện bất thuận của thời tiết, chỉ cần một số kĩ thuật cơ bản đủ nước và chăm bón dinh dưỡng là cây khoẻ và phát triển nhanh, giống cây được đảm bảo nhân giống bằng phương pháp tách chồi  từ cây mẹ nên chi phí đầu vào giảm, đặc biệt là giống chuối ngon, năng suất cao, được thị trường ưa chuộng và có tác dụng chữa bệnh. Bước đầu gặp nhiều khó khăn, nhất là qui trình kĩ thuật, mặc dù anh đã tìm hiểu cặn kẽ nhưng khi áp dụng vào thực tiễn vẫn còn lúng túng, đầu ra cho sản phẩm chưa ổn định nên khi thu hoạch rộ có nguy cơ bị ép giá. Mùa thu hoạch chuối đầu tiên anh đã dấm và bán ở ngay tại chợ quê. Sau đó, anh đã áp dụng kĩ thuật để chuối chín rộ trên cây và tìm hướng tiêu thụ mới. Anh Thành đã “liều” chở chuối đi tiêu thụ các tỉnh Hà Nam, Thái Bình, Hải Dương, Hà Nội … vừa bán anh vừa quảng cáo thương hiệu chuối tiêu hồng Đại Tập. Anh dành thời gian mấy ngày liên tục bán ở một nơi như vậy để xem khách hàng có quay lại mua chuối nữa không và nghe thông tin từ khách hàng. Chỉ trong một  thời gian ngắn khách hàng đã trở nên quen thuộc với giống chuối tiêu hồng và quả chuối đã trở thành loại trái cây được ưa chuộng trên thị trường. Cây chuối tiêu hồng cho ra quả quanh năm, mẫu mã đẹp mà lại ngon, ngọt giá cả phù hợp với người tiêu dùng, nên rất dễ bán. Nhận thấy số lượng người mua chuối tăng dần, anh Thành đã mua ô tô để chở hàng đi bán ở các tỉnh miền Bắc, miền Trung và sang cả Trung Quốc. Ngoài ra, nhiều thương lái đã tìm tận nhà anh mua với số lượng lớn.

Đưa chúng tôi đi tham quan vườn chuối ngút ngàn màu xanh với những buồng trĩu nặng anh Thành vui vẻ tâm sự: Nhờ có chủ trương xoá đói, giảm nghèo của Đảng, sự quan tâm của cấp uỷ, chính quyền và Hội Nông dân tôi đã quyết định đầu tư vốn để trồng chuối. Hội Nông dân đã tư vấn và hỗ trợ tôi kiến thức khoa học kĩ thuật, cung ứng phân bón NPK đa dinh dưỡng trả chậm tạo điều kiện thuận lợi cho tôi sản xuất. Vừa làm vừa rút kinh nghiệm đến nay tôi đã nắm chắc kĩ thuật và  xử lí được mọi tình huống sâu bệnh, thời tiết cho cây chuối.  

Và trở thành tỉ phú

Trao đổi kinh nghiệm với chúng tôi về các khâu chọn đất, chọn giống và chăm bón phòng trừ sâu bệnh theo từng giai đoạn phát triển sinh trưởng của chuối anh Thành cho biết không thể trồng như ta vẫn trồng chuối ở vườn theo lối cổ truyền rồi thu hoạch. Nếu như vậy chỉ được hai năm chuối không ra buồng nữa và bị nhạy. Đặc biệt thường xuyên giữ độ ẩm, tạo nguồn nước cho chuối; đánh thuốc chống sương, dưỡng lá để giữ tàu lá thì buồng chuối, quả chuối sẽ đẹp và cho quả ngọt. Sau thu hoạch xử lí chế phẩm phụ của cây và lá vứt xuống giữa luống chuối để tạo độ ẩm tránh cỏ mọc tạo thêm chất hữu cơ cho vụ sau.

Hiện tại diện tích anh đang trồng chuối là 30 mẫu. Giá thuê đất 1,5 triệu đồng/sào/năm và kí hợp đồng thuê trong thời gian 10 năm. Một năm tổng vốn đầu tư là 1 tỉ đồng, doanh thu 2 tỉ đồng/năm. Cứ một sào thu lãi 4 triệu đồng, với diện tích 30 mẫu, một năm anh thu lãi khoảng hơn một tỉ đồng.

Khi đã có phương tiện và có địa chỉ để tiêu thụ hàng, hàng năm anh còn tiêu thụ 200 tấn chuối cho bà con ở địa phương và các xã lân cận. Thấy được nhu cầu của người mua giống chuối tăng dần, anh đã nhân giống chuối bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng để cung ứng ra thị trường, đồng thời nhiệt tình trao đổi kinh nghiệm cho mọi người. Hiện nay mô hình của anh đang tạo việc làm ổn định cho 10 lao động, với mức lương 3 triệu đồng/người/tháng. Ngoài ra Anh còn tích cực tham gia các phong trào do địa phương, Hội phát động, giải quyết được đầu ra và hỗ trợ giống, vốn, KHKT cho nhiều hộ nông dân.

Anh dự định thời gian tới nhân rộng mô hình trồng chuối với qui mô lớn hơn, thị trường tiêu thụ rộng lớn hơn, tuy đầu ra đã ổn định nhưng để đáp ứng và trụ vững được lâu dài là rất khó. Ước muốn của Anh là tạo được thương hiệu cho sản phẩm để dùng chuối thay thế cho các loại hoa quả khác.

Với những kết quả đã đạt được trong nhiều năm liền anh Thành đã đạt danh hiệu hộ sản xuất kinh doanh giỏi các cấp, được UBND huyện Khoái Châu khen thưởng; mô hình của anh được nhiều đoàn, nhiều hội viên nông dân ở các địa phương trong tỉnh đến tham quan học tập kinh nghiệm. Đồng thời đây là một mô hình làm giàu đã góp phần thúc đẩy phong trào sản xuất kinh doanh giỏi của Hội ở địa phương, đồng thời là một trong những hướng đi mới đồng hành cùng với các cấp Hội tích cực tham gia vào phong trào xây dựng nông thôn mới trong giai đoạn hiện nay”.

………………………

“Đi qua xóm Gành Ráng thuộc thôn 9 xã Tam Hiệp (Núi Thành, Quảng Nam) ai cũng biết vườn chuối nhà ông Thương. Vì đây là nơi nhiều người đến để học tập kinh nghiệm làm ăn, vừa là nơi khách hàng tìm đến để mua sản phẩm nông nghiệp từ cây chuối lùn do ông làm ra. Để có được vườn chuối oằn quả như hôm nay là cả một quá trình không đơn giản đối với ông. Vì nơi đây toàn cát bạc màu lại bị chua phèn, thêm vào đó là thời tiết thất thường, mùa nắng bị khô cằn, mùa mưa bị ngập úng, do đó muốn trồng cây phải tính đến chuyện xử lí hệ thống tưới, tiêu thật vững chắc.

Và, để minh chứng cho sự quyết tâm của mình ông kiên trì ngày đêm dùng sức thủ công cải tạo khu vườn. Vừa làm đất vừa tranh thủ tìm giống cây con rồi trồng theo từng hàng, mỗi hàng được đôn cao để tránh mùa úng thủy. Thế là mọi sự quyết tâm đã đến lúc nhìn thấy sản phẩm của chính mình tạo ra và chấm dứt giai đoạn “Vạn sự khởi đầu nan”.

Hiện nay vườn chuối ông Thương đã lên xanh tốt và trổ bắp đều đặn. Ông tiếp tục đầu tư thâm canh và tạo được nguồn thu. Đến nay, sau mười năm cây chuối lùn đã cho nguồn thu khá ổn định. Ông cho biết, tính bình quân mỗi cây ra một buồng, mỗi buồng mười nải, như vậy mỗi mùa chuối ông thu từ 2 – 2,5 tấn quả với giá bán ra thu lãi từ 15 – 20 triệu đồng. Tuy số tiền chưa phải là lớn nhưng nói lên sự quyết tâm, dám nghĩ dám làm của một người ở tuổi về hưu trên 70”.

…………………….

“Sau những chuyến công du chóng mặt bở hơi tai, những phi vụ kinh tế với sự đấu tranh không mệt mỏi giành giật từng “gang tấc”, từng “li lượng” bạn tôi bao giờ cũng về quê để được thư giãn, lấy lại sự bình thản cho mình. Thứ nữa bạn về còn vì tôi, thẳng bạn “nối khố”. Chơi với nhau từ thuở “thò lò mũi xanh”. Bạn tôi gọi đó là “về nguồn” về với “cố hương” để gặp lại “cố nhân”, ôn lại chuyện cũ người xưa, thắp sáng lại tiềm thức ngọt ngào tuổi thơ. Vả lại khi đã ngà ngà say bạn tôi thú nhận: “Về quê sướng nhất!”. Cái thật thà của kẻ say làm cho chúng tôi động lòng, cảm động trước sự chân tình đáng yêu của bạn mình khi đã rời quê ra phố có tới một phần tư đời người vẫn còn giữ được “chất quê”. Tôi còn thấu được cái sướng của bạn tôi đó là được tha hồ ăn uống những món ăn quê do chính tôi trổ tài mà không dễ gì vợ bạn hoặc ai nữa có thể làm được. Mật độ về mỗi ngày một dày của bạn tôi dẫn đến việc trổ tài “hỏa đầu quân” của tôi cũng gặp không ít khó khăn. Những món lươn om củ chuối, cá nhậu kho cúc tần, ếch om cà, gà ri nấu mẻ … cũng đã thết đãi đến lần thứ 2. Lần này tôi định “cải tổ” bằng món nộm hoa chuối.

Lùng sục trong làng tôi thu về hai hoa chuối hột tươi nguyên, chắc như bắp của chàng trai tuổi đôi mươi. Hoa chuối thì chẳng thiếu nhưng giống hoa chuối ngự hay chuối tiêu ăn chát mà không giòn, màu lại thâm xỉn. Bạn tôi vào cuộc bằng việc giúp tôi pha một chậu nước sạch đã trộn những hạt muối cái trắng và vắt vào đấy hai quả chanh tươi. Hai bắp chuối được tôi bóc đi những phần nang (bẹ) già để lại những nang tươi non nõn nà. Thớt đã liền kề, dao sắc đã sẵn, tôi thái ngọt ngào tạo thành những sợi đều như sợi chỉ trước con mắt thán phục của bạn, nó hay đâu rằng tôi làm việc này rất quen bởi từ ngày mặc quần lỏn tôi đã thái không biết bao là chuối cho việc nuôi “bạn lớn” (lợn bán). Bạn tôi tò mò khi thấy tôi giữ lại hai nang chuối còn nguyên vẹn cùng ngâm hai phút trong chậu với những sợi chuối. Công đoạn hai là phần thái chỉ tai lợn và tôm nõn đã “đồ” cho giữ nguyên vị ngọt. Mỗi thứ được đồ riêng để khỏi bị ám mùi của nhau vả lại tai lợn phải đồ kĩ hơn. Sau nhoáng cái, một đĩa tai lợn thái chỉ, một đĩa tôm nõn thái chỉ đã được “yên vị” ngay ngắn trong bàn cùng giá đỗ đã được khéo léo trần qua nước sôi để cho ráo.

Tôi bao giờ cũng cầu kì ở phần gia vị: Những quả ớt ương (ớt đã gần chín) đã được thái chỉ, nước chanh tươi vắt sẵn bỏ hạt, một chút đường, một chút nước sôi vừa đủ. Thứ lạc vừng quê đã sẵn lại ngon cũng đã được khéo léo chuẩn bị. Vừng được giã mịn bằng cối chứ không đem xay dễ bị chảy dầu, bết bón cục như người thị thành thường làm. Lạc thì giã dập ba dập tư để còn cảm được vị giòn thơm, bùi béo. Tôi pha trộn gia giảm vừa đủ, khéo léo đến nỗi bạn tôi chăm chú quan sát, phải bật lời: Dễ cánh con gái thị thành phát ghen với mày thôi! Chưa hết ngạc nhiên, tôi đem phần nộm đã được trộn đều cho vào nang chuối đầy đặn, đặt gọn trong đĩa bầu dục, phần bên hông nang chuối là những rau mùi ta, mùi tàu, tía tô đã được vợ và con trai phụ giúp nhặt rửa thật sạch, khẽ khàng không để bầm dập. Khi đã trải đủ màu xanh vây lấy nang chuối đầy xăm xắp nộm hoa chuối thì nang chuối như một con thuyền đang bồng bềnh giữa biển xanh. Tôi chỉ trình bày một cách cầu kì này với bạn tôi và khách để mọi người hay rằng quê nhà bây giờ cũng văn minh lắm không chỉ biết ăn bằng miệng mà còn ăn bằng mắt, bằng lỗ tai. Còn nếu là khách trong nhà thì chỉ việc ngắt một phần ngọn lá chải xuống và đổ đầy hoa chuối nộm cho thật là dư dả thoải mái.

Chuoi 02

Sau ba cú điện thoại, ba thằng bạn thuở chăn trâu cắt cỏ đã lập tức có mặt. Năm đứa chúng tôi thế là được ngồi “chung một chiếu” hàn huyên ngày xưa chuyện cũ. Thứ rượu “đậu” quê nút lá chuối đem lại sự hăng hái đến lạ. Nộm hoa chuối kẹp với bánh đa vừng – thứ bánh đa vùng ven biển chúng tôi vẫn là ngon nhất. Bạn tôi cũng đồng tình khẳng định đây là đồ ăn thức uống hàng ngày của dân đi biển nên chẳng bao giờ bị làm điêu làm giả. Bạn tôi còn lấy làm tự hào nhắc lại chuyện ngày tôi ra Hà Nội đi ăn phở cùng với nhóm bạn Hà Nội cứ một mực đòi ăn bánh đa với phở chứ nhất quyết không chịu ăn quẩy làm nhà hàng chiều khách phải chạy bở hơi tai. Không hiểu chạm tự ái hay cao hứng tôi đã thuyết thế nào là bánh đa rồi tên gọi khác của bánh đa ở các vùng miền trong cả nước là gì và kết luận hùng hồn đầy tự hào “văn minh bánh đa” có trước “văn minh quẩy”. Chuyện cũ kể lại chung nhau cười ngất ngất. Tất cả chúng tôi cùng ăn no nê món nộm hoa chuối đậm đà chất quê vườn nhà”.

……………………..

“Đó là anh Trần Thanh Cao ở xã Khánh Mậu (H.Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình), người đã mở lớp dạy nghề rồi thành lập tổ hợp Mậu Tiến chuyên sản xuất bàn, ghế, salon, va li … bằng cói, bẹ chuối, thân lúa non hoặc bèo tây để xuất khẩu sang tận Nhật Bản và một số nước châu Âu.

Người đưa ra ý tưởng dạy nghề, tạo việc làm cho thanh niên (TN) và gắn bó với tổ hợp Mậu Tiến từ khi thành lập đến nay là anh Trần Thanh Cao – Phó chủ tịch Hội LHTN xã. Sinh năm 1973 trong một gia đình đông con, nghèo khó, Cao đã phải bỏ dở việc học hành khi vừa tốt nghiệp cấp 2 để lang thang khắp nơi tìm kế sinh nhai. Một lần tới thăm bạn, bắt gặp một nhóm người đang hì hụi đan những chiếc khay xinh xắn bằng bẹ cói, Cao nghĩ ngay tới việc học nghề này. Khổ nỗi, do không có năng khiếu đan lát nên trong khi chúng bạn chỉ cần vài ba ngày là được thầy cấp “bằng tốt nghiệp” khóa học thì Cao phải tiêu tốn mất … 3 năm mới nắm vững kĩ thuật. Có tay nghề, Cao nhận làm hàng cho các công ty trong tỉnh và bắt tay vào việc truyền nghề cho bạn bè cùng trang lứa. Ban đầu, Cao đến từng nhà vận động TN trong xã đến học kĩ thuật đan lát và tạo điều kiện giúp họ có thêm thu nhập bằng chính các sản phẩm làm ra trong quá trình học việc. TN trong xã không tin là có thể kiếm được miếng cơm manh áo từ cái nghề mà họ cho là vặt vãnh này nên rất ít người theo học. Nhưng rồi, sau một thời gian, những học viên ban đầu đã thạo nghề, có việc làm và có thu nhập ổn định nên TN khắp nơi tìm đến xin việc … Hội LHTN xã kịp thời động viên và đỡ đầu Cao để anh thành lập tổ hợp Mậu Tiến.

Tiếp chúng tôi tại xưởng sản xuất của tổ hợp, đặt li nước mời khách trên chiếc bàn được làm bằng bẹ chuối rất đẹp, anh Cao cho biết: “Tổ hợp đang tạo công ăn việc làm cho 600 công nhân, thu nhập thì cũng tùy theo năng suất lao động nhưng tính ra mỗi người cũng bỏ túi được hơn 500 ngàn đồng/tháng”. Hiện tại, các sản phẩm chủ yếu của Mậu Tiến là bàn ghế, salon, va li, hộp ô van … được làm từ cói, bẹ chuối, thân cây lúa non, bèo tây … Nguyên liệu rẻ và dễ kiếm, sản phẩm lại bền đẹp nên khách hàng ngoài nước rất ưa chuộng, đặc biệt là người Nhật Bản và các nước châu Âu.

Chịu khó tìm kiếm thị trường và luôn luôn giữ chữ tín với khách hàng nên tổ hợp của Cao nhận được rất nhiều đơn hàng. Cao cho biết, do năng lực sản xuất có hạn vì không có vốn đầu tư nên tổ hợp cũng không dám mở rộng quy mô. Anh Cao ao ước: “Giá mà chúng tôi có đủ tiền để mua thêm 20 cái máy dệt nữa thì tốt biết mấy ! Khi đó, Mậu Tiến có thể tiếp nhận thêm 1.000 TN vào làm việc. Làng quê sẽ không còn người thiếu việc, TN không còn tụ tập, lêu lổng trên cây cầu ngoài đầu làng …””.

………………..

“(Dân trí) – Lâu nay cứ nghĩ bẹ chuối khô chỉ có thể làm thức ăn chăn nuôi, chất đốt hoặc… vứt đi. Nhưng khi về xã Quảng Long, huyện Quảng Xương, Thanh Hóa, chúng tôi được chứng kiến những “kiệt tác” từ bẹ chuối khô xuất khẩu ra nước ngoài. Để được tận mắt chứng kiến qui trình làm ra những món hàng xuất khẩu độc đáo từ bẹ chuối khô, chúng tôi tìm về xã Quảng Long, đến một lớp học nghề đan hộc bẹ chuối của xã.

Chuoi 03

Thoăn thoắt vắt sổ cho xong chiếc hộc, chị Trần Thị Lan Hương, một học viên cho biết: “Tôi vào nghề đã được hơn 3 tháng nay. Ban đầu tôi thấy hơi khó khăn để đan được chiếc hộc đẹp và ưng ý, nhưng giờ thì quen tay rồi. Một ngày tôi có thể đan được 3 chiếc hộc lớn mà chỉ cần tranh thủ vào thời gian rảnh rỗi thôi”.

Quảng Long là một xã thuần nông với gần 6.000 nhân khẩu. Kinh tế chủ yếu là làm ruộng, trồng cói. Do đất đai ít, điều kiện phát triển kinh tế khó khăn nên không có các nghề phụ. Hàng năm số lao động dư thừa trong xã chiếm tỉ lệ cao, lên tới 1.700 lao động. Nhiều thanh niên trong xã phải tha hương đi các tỉnh làm ăn. Nhưng từ khi nghề đan hộc bẹ chuối xuất hiện, đã tạo công ăn việc làm cho người dân nơi đây, tăng thu nhập và cải thiện đời sống kinh tế hộ gia đình.

Nghề đan hộc bẹ chuối phát triển ở Quảng Long từ năm 2008, do công ty Bao tiêu sản phẩm Truờng Phúc kết hợp với UBND xã Quảng Long giới thiệu và dạy nghề cho người dân, có hỗ trợ về tài chính và học việc. 

Ông Lê Minh Được, Phó Giám đốc Trung tâm hỗ trợ cộng đồng, giải thích: “Một học viên chỉ cần học từ 9 – 10 ngày là có thể làm hộc bẹ chuối thành thạo, nghề không đòi hỏi nhiều về sức khỏe và công sức nên lứa tuổi nào cũng có thể làm được. Nguyên liệu người dân cũng có thể tận dụng từ bẹ chuối gia đình trồng được. Một hộc bẹ chuối nhỏ có giá 9.000đ, hộc lớn là 16.000đ. Đặc biệt nghề này tận dụng được tối đa thời gian rảnh rỗi trong một ngày nhưng thu nhập lại khá ổn định”.

Hiện nay, các lớp học nghề đan hộc bẹ chuối thu hút cả những người có độ tuổi 60, hay những người tàn tật. Một người bình thường đan mỗi ngày được 2 – 3 cái hộc, tương đương từ 35 – 40.000đ/ngày. Ban đầu chỉ có thôn Thổ Ngõa, nhưng đến nay hầu hết các thôn trong xã đều tham gia và nhận sản phẩm về làm, một số xã lân cận như Quảng Phong, Quảng Bình … Các sản phẩm sẽ được công ty Truờng Phát tiêu thụ và xuất khẩu sang các nuớc châu Âu, Phi, Mĩ.

Chị Nguyễn Thị Tâm, người trực tiếp đào tạo nghề cho bà con tâm sự: “Để làm hộc, giỏ hoa từ bẹ chuối phải qua nhiều công đoạn khác nhau. Đầu tiên phải căng khung bằng các sợi đay vào đáy rồi dùng kĩ thuật vê. Bẹ chuối do công ty Trường Phát cung cấp thường là bẹ chuối tây, màu trắng, đựơc sấy khô, dẻo, đảm bảo không mốc”.

Qủa thật, nếu không trực tiếp chứng kiến tận mắt các công đoạn sản xuất thì ít ai nghĩ nhưng chiếc hộp xinh xắn này lại đựơc làm từ một nguyên liệu đơn giản, sẵn có, giá thành rẻ như bẹ chuối. Sắp tới, xã Quảng Long khuyến khích người dân mở rộng diện tích trồng chuối tây để chủ động nguồn nguyên liệu.

Ông Lê Bá Tân, Chủ tịch UBND xã Quảng Long cho biết: “Hiện chúng tôi đã có 300 lao động đang làm nghề đan hộc bẹ chuối trong toàn xã. Tới đây chúng tôi sẽ đào tạo thêm 200 lao động để thành lập một tổ hợp, phát triển thành làng nghề đem lại nguồn thu nhập chính cho người dân nơi đây. Đồng thời xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới. Việc mở các lớp đào tạo nghề đan hộc bẹ chuối đang trở thành hướng đi tăng thu nhập, chuyển đổi cơ cấu ngành nghề cho nông dân””.

……………………

“Trước đây, cây chuối được người dân trồng chủ yếu để thu hoạch trái, còn thân của nó thì ít được mọi người chú ý. Hiện nay, bẹ chuối khô được dùng làm nguyên liệu để đan giỏ xuất khẩu, mang lại giá trị kinh tế cao. Tuy mới được hình thành và mở rộng trong thời gian gần đây, nhưng nghề đan giỏ bẹ chuối khô xuất khẩu đã mở ra một cơ hội rất lớn cho người dân vùng nông thôn huyện Trần Văn Thời. Nhờ làm nghề này mà thời gian qua, nhiều chị em phụ nữ có thêm thu nhập, từng bước ổn định cuộc sống. Theo nhiều người cho biết, nghề đan giỏ bẹ chuối khô không khó, chỉ cần mất một khoảng thời gian từ 7 – 10 ngày để học là có thể tự đan được. Nghề này thu hút được nhiều độ tuổi tham gia làm việc, kể cả trẻ em từ 9, 10 tuổi đến người già đều làm được. Lúc nông nhàn, mỗi ngày một người có thể đan được từ 2 – 3 giỏ, mỗi giỏ có giá từ 17.000 – 21.500 đồng, tùy theo loại. Nhiều người còn tận dụng cả buổi tối để làm thêm, sản phẩm làm ra được doanh nghiệp bao tiêu tại chỗ.

Do thấy được hiệu quả từ nghề đan giỏ bẹ chuối khô xuất khẩu nên hiện nay hội phụ nữ một số xã của huyện Trần Văn Thời tổ chức thêm các lớp dạy nghề cho chị em, nhằm mở rộng mô hình sản xuất. Chị Nguyễn Thị Kim Dung, Chủ tịch Hội Phụ nữ xã Khánh Bình, cho biết: “Hiện tại, xã có 2 tổ phụ nữ làm nghề đan giỏ, với gần 60 chị em. Hướng tới, xã sẽ mở rộng mô hình, làm sao cho ấp nào cũng có tổ phụ nữ làm nghề này”. Nếu được sự quan tâm đầu tư, mở rộng một cách hợp lí thì đây được coi là nghề có nhiều tiềm năng và lợi thế, không chỉ tăng thêm nguồn thu nhập phát triển kinh tế gia đình mà còn tạo được việc làm ổn định cho nhiều lao động nhàn rỗi ở nông thôn.

Tuy nhiên, có một nghịch lí là trong khi các huyện vùng ngọt hóa của tỉnh có nguồn nguyên liệu bẹ chuối khô khá dồi dào, nhưng nhiều lúc doanh nghiệp phải thu gom bẹ chuối khô từ các tỉnh khác để chở về cung cấp cho người làm nghề. Bà Nguyễn Thị Hận, Chi hội phó Chi hội Phụ nữ ấp Kinh Hội, xã Khánh Bình, bộc bạch: “Thời gian qua, nếu gặp lúc trời mưa không đủ bẹ chuối để chị em đan giỏ, phải chờ doanh nghiệp chuyển về. Nếu ai có bẹ chuối khô đem đến đây bán, chúng tôi sẽ mua với giá 4.000 đồng/kg”.

Sau khi thu hoạch phần trái, trung bình một cây chuối có thể phơi được từ 1,5 – 2 kg bẹ chuối khô, thay vì bỏ đi như trước đây thì hiện nay người dân kiếm thêm được từ 6.000 – 8.000 đồng/cây, quan trọng hơn là đáp ứng đầy đủ và kịp thời nguồn nguyên liệu cho những người làm nghề tại địa phương. Nếu biết khai thác hết tiềm năng và lợi thế sẵn có tại chỗ thì thu nhập mà người dân kiếm được từ nghề đan giỏ bẹ chuối khô hằng năm là không nhỏ. Tuy nhiên, về lâu dài phải tạo đầu ra cho sản phẩm một cách ổn định, tránh tình trạng khi mô hình được mở rộng, sản phẩm làm ra ngày càng nhiều nhưng lại không tiêu thụ được, ảnh hưởng đến thu nhập và cuộc sống của người dân”.

Kết luận: Rõ ràng cây chuối có rất nhiều tiềm năng mà ta chưa khai thác hết, nếu chịu đầu tư, nghiên cứu nhất định sẽ giàu có. Ý tưởng đưa ra chung chung như vậy nhưng tùy theo hoàn cảnh, điều kiện của từng người mà có cách làm khác nhau. Vấn đề này bạn phải tham khảo ý kiến tác giả ý tưởng.

3. Điều kiện cần và đủ:

Sau đây là những điều kiện tối thiểu cần và đủ để bạn có thể thực hiện thành công ý tưởng này:

+ Nếu có diện tích đất để áp dụng mô hình này thì tốt, còn nếu như chưa có đất thì bạn nên tiến hành các bước cuối mà thôi. Bạn cần có thêm số vốn khoảng từ 50 – 100 triệu VND. Số vốn này chủ yếu dùng để đầu tư trồng và thu mua nguyên liệu từ cây chuối, lập trang web, quảng cáo, giao dịch …

+ Bạn phải nắm được kĩ thuật kinh doanh mô hình này.

+ Bạn phải kiên nhẫn đủ để theo đuổi ý tưởng.

+ Bạn phải am hiểu về internet, thiết kế web, logo, slogan, banner và có khiếu chọn hình ảnh, viết bài đăng trên web.

+ Bạn phải là người có khiếu giao tiếp, nhạy bén, sáng tạo, cần cù …

+ Bạn phải là người cầu tiến, chu toàn, quản lí chặt chẽ tiền bạc …

4. Khó khăn và thuận lợi:  

Kinh doanh bất cứ lĩnh vực nào cũng có khó khăn và thuận lợi, nếu như bạn cảm thấy mình không thể vượt qua những khó khăn liệt kê dưới đây thì tốt nhất không nên chọn thực hiện ý tưởng này. Sau đây là một số khó khăn và thuận lợi điển hình khi bạn quyết định theo đuổi ý tưởng này:

Khó khăn:

+ Về kĩ thuật kinh doanh: Khi nghĩ ra ý tưởng tác giả đã nghĩ ra kĩ thuật kinh doanh để thành công với mô hình này, do đó bạn nên liên hệ với tác giả để biết cách thực hiện.

+ Về việc lập web: Nhiều người cứ cho rằng lập web không có gì khó, thật ra để có một trang web thú vị lôi cuốn khách hàng là điều không hề dễ dàng. Ngoài cách trình bày, chọn lọc hình ảnh, nội dung … thì khó khăn nhất chính là viết bài. Người quản lí web phải viết bài sao cho thật hay, ý nghĩa, phù hợp tâm lí người đọc, đúng đắn, thiết thực … Bạn phải biết rằng đối tượng khách hàng của bạn là ai để khi viết bài bạn phải nêu bật lí do tại sao họ nên chọn sản phẩm, dịch vụ của bạn. Vấn đề này tưởng đơn giản nhưng lại rất khó đối với những ai không có khiếu văn chương.

+ Về việc quản lí tiền bạc: Để làm nên sản nghiệp lớn bạn phải học cách quản lí chặt chẽ tiền bạc, đây là một yêu cầu không thể thiếu ở người làm giàu.

+ Về việc tuyển dụng, quản lí nhân sự: Đừng coi thường tính chuyên nghiệp ngay từ đầu. Nhân viên phải có những đức tính giống người chủ, phải siêng năng, có đạo đức nghề nghiệp … Đối với những bạn đã từng đứng ở cương vị quản lí có những hiểu biết nhất định về nghiệp vụ nhân sự thì không nói làm gì, nhưng đối với những bạn mới ra đời khi đứng ở cương vị quản lí sẽ rất lúng túng. Cái gì cũng phải học, rèn luyện từ từ, nếu có quyết tâm thì bạn sẽ làm tốt thôi.

Thuận lợi:    

+ Đây là một ý tưởng kinh doanh khả thi, thiết thực.

+ Vốn đầu tư ít, lợi nhuận cao, nhu cầu nhiều.

+ Rủi ro thấp.

+ Bền vững.

+ Qui mô mở rộng không ngừng.

5. Cách thức chuẩn bị và thực hiện:

Liên hệ Chat Master Club qua địa chỉ E-mail bên dưới để được hướng dẫn cụ thể:

chatmasterclub@yahoo.com

6. Duy trì và phát triển:

Liên hệ Chat Master Club qua địa chỉ E-mail bên dưới để được hướng dẫn cụ thể:

chatmasterclub@yahoo.com

 

Chat Master Club

11/04/2013

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s