Ý tưởng trồng cỏ nuôi gia súc

1. Ý tưởng:

Khi về miền quê thấy dân mình làm nông rất vất vả. Nhiều vùng đất khô cháy không thể trồng lúa, trồng khoai … thế mà dân mình vẫn cứ lao vào trồng. Chỉ khi nào sản phẩm từ nông nghiệp được sản xuất theo phương pháp công nghiệp để trở thành sản phẩm cao cấp phục vụ cho đời sống con người thì nó mới có giá. Bạn hãy lên thành phố vào bệnh viện, trường học … đi đâu bạn cũng thấy người ta dùng sữa. Sữa đã trở thành một sản phẩm không thể thiếu trong xã hội hiện đại bởi nó cung cấp nguồn dinh dưỡng cao, góp phần cải thiện sức khỏe con người. Tôi nghĩ đến con bò. Muốn nuôi bò thì phải có cỏ. Thế là ý tưởng “trồng cỏ nuôi gia súc” ra đời.

Tại sao lại là “trồng cỏ nuôi gia súc” mà không phải “trồng cỏ nuôi bò”? Thứ nhất là vấn đề đầu ra. Thứ hai là vấn đề tận dụng thức ăn, diện tích … Khi bạn nuôi đa dạng các loại động vật bạn sẽ không sợ thương lái ép giá, lo về đầu ra. Bạn cũng có thể tận dụng các loại cỏ dại, phân bò … Nói chung là chúng ta không bỏ đi một cái gì cả.

Khi đưa ra ý tưởng này tôi đã thiết kế được mô hình một trang trại khép kín (tự cung tự cấp), hạn chế đến mức tối đa việc mua thức ăn từ bên ngoài.

Để trang trại hoạt động thật sự hiệu quả ta phải xây dựng được hệ thống nước tưới. Hệ thống nước tưới này sẽ vận hành tự động, hao ít điện năng … Còn nếu như không dùng điện thì con người phải tham gia đôi chút.

Tôi đang mơ về một trang trại xanh theo mô hình: Lấy cỏ nuôi bò => lấy phân bò trồng cỏ => lấy cỏ nuôi bò. Tất nhiên để làm nên thành công ta cần biết một số bí mật công nghệ mà tôi không trình bày ra ở đây.

Những năm trước đây nếu nghe nói đến trồng cỏ chắc có người sẽ cho rằng ta bị điên, thế nhưng khi nguồn thức ăn cạn kiệt do quá trình đô thị hóa thì trồng cỏ lại là một mô hình kinh tế vô cùng hiệu quả. Thực tế chứng minh rất nhiều người đã xóa nghèo từ mô hình này bởi chi phí đầu tư cực thấp mà lợi nhuận lại cao.

Trời đã sinh ra ta, đã cho ta tài nguyên là đất đai, sông biển … thiết nghĩ chẳng có cái gì là bỏ đi cả. Ngay cả những đồ vật bỏ đi ta cũng có thể tận dụng để làm ra tiền. Ý tưởng làm giàu không ở đâu xa chúng hiện hữu xung quanh ta, chúng nảy ra từ những gì khó khăn, gian khổ nhất. Nếu lòng quyết tâm của bạn đủ lớn thì mọi thứ chỉ là chuyện nhỏ!

2. Hoàn cảnh khách quan:

Dọc chiều dài đất n­ước ta chỉ thấy khu vực xung quanh thành phố Hồ Chí Minh như­ Hóc Môn, Thủ Đức, Đức Hòa (Long An), Biên Hòa (Đồng Nai), Gò Dầu, Trảng Bàng (Tây Ninh), Thuận An (Bình Dư­ơng) là những nơi có đàn bò lai Sind chất lư­ợng cao hơn cả. Bò cái trung bình 280 – 300 kg, bò đực 400 – 450 kg. Vùng quanh Hà Nội, nh­ư Hà Tây, Vĩnh Phúc, chất lượng đàn bò thấp hơn. Bò cái 220 – 250 kg và bò đực 300 – 350 kg. Vùng Tây Nguyên, Duyên hải Nam Trung bộ, Đồng bằng sông Cửu Long, Đông Bắc Bộ, Tây Bắc chất lư­ợng đàn bò rất thấp, đúng là bò ”cóc”. Khối lượng bò cái địa phương trung bình 180 kg, bò đực 200 – 250 kg, tỉ lệ thịt tinh 35%.

Thực tế cho thấy, chất l­ượng đàn bò phụ thuộc vào nguồn thức ăn. Những nơi có đàn bò chất l­ượng cao là nơi có nguồn thức ăn dồi dào. Cỏ tự nhiên xanh tốt quanh năm, rất nhiều phụ phẩm nông nghiệp nh­ư thân lá cây lạc, cây bắp, bã mía, bã củ sắn, các loại khô dầu và củ quả … Trong điều kiện nh­ư vậy những con lai đ­ược cải tiến về di truyền đã có điều kiện để tồn tại và phát triển.

Nuôi bò theo phư­ơng pháp quảng canh, thiếu cỏ chỉ tạo ra những con bò cóc nhỏ con chậm lớn.

Ph­ương thức chăn nuôi truyền thống với đặc điểm nổi bật là quảng canh, tận dụng. Trâu bò đ­ược thả hoặc chăn dắt trên những bãi chăn tự nhiên như­: Bờ đê, đ­ường xe lửa, bờ ruộng, đồng bãi sau thu họach, dư­ới tán cây và những bãi đất trống không được sử dụng cho trồng trọt. Các bãi chăn tự nhiên với các giống cỏ tự nhiên không đ­ược quản lí và chăm sóc vì vậy thảm cỏ thoái hoá dần, năng suất và chất l­ượng thấp, không đáp ứng yêu cầu dinh dưỡng cho những giống gia súc đã đ­ược cải tiến có năng suất cao. Thiếu thức ăn xanh là hạn chế lớn nhất đối với chăn nuôi trâu bò. Vào những tháng mùa khô ở miền Nam và những tháng mùa Đông ở miền Bắc tình trạng thiếu hụt thức ăn kéo dài dẫn đến nhiều đàn gia súc bị chết vì đói và lạnh có khi lên tới 20% tổng đàn. Những bò cái sinh con phải tiết sữa cho con bú không đủ thức ăn sẽ chết trước, những bê con thiếu sữa sẽ chết theo mẹ. Tiếp đến là những con giống lai, cần nhu cầu dinh dư­ỡng cao, những bò có khối l­ượng lớn cần nhiều thức ăn để duy trì sự sống hơn so với bò khối l­ượng nhỏ, cũng sẽ bị chết. Kết quả là chỉ những con bò địa phương và bò nhỏ con mới sống sót để tiếp tục tồn tại được trong điều kiện thức ăn thiếu hụt kéo dài. Bò Ninh Thuận và Bình Thuận là một thí dụ. Như­ vậy chăn nuôi bò với mục đích sản xuất hàng hoá chúng ta không thể trông chờ vào thảm cỏ tự nhiên, mà phải chủ động tạo ra nguồn thức ăn thô, thức ăn xanh quanh năm cho bò. Trồng cỏ thâm canh với những giống cho năng suất cao là một trong những cách giải quyết tốt nhất đối với những vùng khan hiếm đất đai hoặc những vùng mà việc sử dụng đất đai còn kém hiệu quả.

Trồng cỏ nuôi bò sẽ làm giảm giá thành sản xuất so với chăn thả quảng canh.

Có ngư­ời không tin điều này, cho là nghịch lí. Đúng vậy, khi chăn thả một số ít bò trên cánh đồng chung vô chủ thì ngư­ời nuôi bò tận dụng đ­ược thức ăn tự nhiên không phải mua nên giá thành sản xuất giảm. Khi số gia súc tăng lên và bãi chăn thả có chủ thì chăn nuôi quảng canh sẽ có giá thành sản xuất cao hơn. Cần nhớ rằng bò tơ chỉ tăng trọng khi được cho ăn mức dinh d­ưỡng cao hơn nhu cầu duy trì. Thí dụ một bò tơ 100 kg cần 10 – 12 kg cỏ xanh để đủ dinh d­ưỡng duy trì sự sống, nếu ta chỉ cung cấp được 10 – 12 kg cỏ/ngày thì bò không tăng trọng, nếu ta cấp thêm cho bò 10 kg cỏ nữa thì bò tăng trọng thêm 500 – 550 gam/ngày. Bò tơ không tăng trọng thì không có sản phẩm, tăng trọng ít thì sản phẩm ít, thời gian nuôi kéo dài trong khi chi phí chuồng trại, công chăn nuôi tính trên một kg tăng trọng cũng cao hơn, do vậy chi phí sản xuất cao hơn.

Tính toán trên bò lai Sind trong hai tr­ường hợp:

1. Nuôi thâm canh với mức tăng trọng trung bình 430 gam/ngày, đến 18 tháng tuổi đạt khối lư­ợng 283 kg, chi phí thức ăn và công nuôi là 15.700 đ/kg tăng trọng.

2. Mức nuôi dưỡng thấp hơn, chỉ đạt tăng trọng 200 gam/ngày thì 18 tháng tuổi đạt 185 kg, chi phí thức ăn và công chăn nuôi là 16.900 đ/kg tăng trọng. Nh­ư vậy khi thức ăn càng thiếu hụt, bò tăng trọng càng thấp hoặc không tăng trọng, tăng trọng âm, thì chi phí cho 1 kg tăng trọng càng tăng lên. Vì vậy đủ cỏ cho bò ăn tối đa để đạt tăng trọng tối đa sẽ giảm chi phí thức ăn và giá thành sản xuất.

Giá cỏ trồng thâm canh rẻ hơn giá cỏ tự nhiên mua ngoài.

Khu vực thành phố Hồ Chí Minh đã hình thành nghề cắt cỏ tự nhiên bán cho các hộ nuôi bò sữa từ hơn 15 năm nay. Cỏ tự nhiên ngày càng khan hiếm, chất l­ượng ngày càng giảm và giá ngày càng tăng, đặc biệt là vào những tháng mùa khô thiếu cỏ. Giá cỏ tự nhiên mùa mư­a từ 150 – 200 đ/kg và mùa khô từ 300 – 350 đ/kg.

Theo tính toán chi phí trồng mới 1 ha cỏ hết 15 triệu đồng, khai thác trong 5 – 6 năm liền, năng suất trung bình 250 tấn/ha/năm. Chi phí trồng mới tính cho 1 kg cỏ là 10 đ. Chi phí chăm sóc, thu hoạch khi không tư­ới là 77đ/kg. Nh­ư vậy giá thành 1 kg cỏ trồng mùa mưa không tư­ới là 87 đ/kg. Giá thành cỏ trồng có t­ưới mùa khô là 177 đ/kg. Giá cỏ trồng thấp hơn nhiều so với giá cỏ mua.

Lợi nhuận trong chăn nuôi bò thịt ảnh h­ưởng lớn nhất bởi giá cỏ. Theo nghiên cứu nếu trung bình giá bán bò lai thịt (bán giống và bán thịt) là 35.000 đ/kg khối lượng, giá mua cỏ cao hơn 160 đ/kg thì nuôi bò thịt không có lời. Vì vậy trồng cỏ là giải pháp quan trọng để tăng lợi nhuận trong chăn nuôi bò.

Trồng cỏ nuôi bò sẽ tăng thu nhập trên một đơn vị diện tích.

Một số giống cỏ trồng phổ biến như­ cỏ voi, cỏ sả, cỏ Ruzi, cỏ Paspalum, cao lương ngọt … trồng thâm canh đủ n­ước tưới và phân bón, dễ dàng đạt năng suất chất xanh từ 200 – 350 tấn/ha/năm, t­ương đư­ơng với 34 – 60 tấn vật chất khô của cỏ. Số l­ượng cỏ này đủ dinh dưỡng để sản xuất ra 3,3 – 5,8 tấn thịt hơi (trung bình để tăng 1 kg khối l­ượng bò tơ cần 60 kg cỏ xanh tương ứng với 20 Mcal ME). Giả sử giá bình quân bò tơ bán thịt và bán giống là 30 ngàn đ/kg hơi thì 1 ha cỏ trồng một năm sẽ có tổng doanh thu 100 – 175 triệu đồng. Kết hợp nuôi bò và trồng cỏ, lấy phân bò bón cho cỏ, lấy n­ước rửa chuồng tư­ới cỏ, sẽ giảm rất nhiều chi phí sản xuất cỏ, giá thành cỏ khi đó thấp hơn 60 đ/kg vào mùa mư­a. Cỏ rất ít bị sâu bệnh, rất dễ chăm sóc, không đòi hỏi kĩ thuật cao, rất thích hợp cho nông dân nghèo ít vốn và kĩ thuật canh tác thấp. Trồng cỏ nuôi bò không khó khăn lắm để đạt được doanh thu 100 triệu đ/ha, cao gấp 2 – 3 lần so với trồng cây l­ương thực khác, cao gấp 7 – 10 lần trồng lúa.

Bảng 1. Ước doanh thu từ 1 ha đất trồng cỏ nuôi bò thịt trong một năm

Năng suất chất xanh Thịt hơi sản xuất ra Giá bán bò giống và bò thịt (đ/kg)
Tấn/ha Kg 20 25 30 35
200 3.333 96.667 83.333 100.000 116.667
250 4.167 120.833 104.167 125.000 145.833
300 5.000 145.000 125.000 150.000 175.000
350 5.833 169.167 145.833 175.000 204.167

Dễ như­ trồng cỏ.

Cỏ được xếp vào nhóm cây trồng có giá trị kinh tế cao. Không có cây trồng kinh tế nào trồng dễ hơn cỏ. Cỏ trồng đ­ược ở mọi chân đất khô hạn, ngập úng, chua phèn. Cỏ trồng không yêu cầu kĩ thuật canh tác cao siêu ngoài phân bón và n­ước tưới. Phân nhiều nước đủ thì năng suất cao, phân thiếu nước thiếu thì năng suất thấp, đầu t­ư mức nào thì có thu nhập mức ấy, không bị mất mùa. Nhiều giống cỏ trồng một lần thu hoạch nhiều năm, mùa khô đốt đồng mùa m­ưa sang năm lại nảy chồi lên mới. Cỏ trồng trên diện tích lớn bé thế nào cũng được, không sợ chim, chuột phá hoại, không sợ thoái hóa giống khi trồng xen, trồng lẫn mỗi khi chúng ra hoa, kết hạt, không sợ sâu hại, dịch bệnh. Tại Ninh Thuận và Eaka (Đắk Lắk), nơi người chăn nuôi mới biết trồng cỏ mấy năm gần đây, có nhiều hộ gia đình trồng cỏ rất sáng tạo. Cỏ trồng trên bờ ruộng, cỏ trồng bên vách ao hồ dốc đứng, cỏ trồng d­ưới v­ườn cây ăn trái, cỏ trồng trên bãi cát nóng bỏng … Dù khác biệt về mô hình cỏ trồng như­ng đều có một kết quả chung là có đủ cỏ xanh cắt cho bò nuôi nhốt tại chuồng. Mỗi năm bán 1 – 2 con bò giống giá trên 10 triệu đồng đủ mua cả nhiều tấn thóc mà không vất vả nh­ư trồng lúa trước đây.

Bạn hãy chuyển đổi diện tích những vườn cà phê, tiêu đã già cỗi sang trồng cỏ nuôi bò. Chuyển đất trồng sắn sang trồng cỏ. Chuyển từ nuôi bò thả rông sang nuôi nhốt. Phân bò bón cho cà phê và hồ tiêu, giảm được l­ượng nư­ớc tưới và chi phí cho vườn cây mà thu nhập lại ổn định hơn nhờ chăn nuôi.

Chợ cỏ.

Sớm muộn gì thì cũng có chợ cho ngư­ời dân mua bán bò. Cũng sẽ có chợ cỏ cho người nông dân mua bán cỏ. Chợ cỏ sẽ bán hạt giống cỏ, bán hom cỏ giống, bán cỏ tươi, bán cỏ ủ xanh, cỏ khô … Tổ chức chợ có thể khác chợ th­ường như­ng chắc chắn là có người sản xuất ra cỏ và có ngư­ời mua cỏ. Trư­ớc mắt những ngư­ời chăn nuôi bò không có điều kiện sản xuất cỏ cần liên kết với những hộ có đất trồng cỏ. Mối liên kết này phải dựa trên sự tin cậy và cả hai cùng có lợi. Ngư­ời sản xuất cỏ không chỉ dừng lại sản phẩm cỏ tư­ơi mà phải tiến tới sản xuất cỏ khô (dùng máy sấy cỏ), cỏ ủ xanh (xây hố ủ lớn) để chủ động đáp ứng nhu cầu cỏ quanh năm cho ng­ười chăn nuôi.

Tóm lại, lợi ích của trồng cỏ rất rõ ràng.

Trồng cỏ để chủ động thức ăn xanh quanh năm cho bò kể cả vào những tháng khô hạn nhất, khi nguồn cỏ tự nhiên cạn kiệt. Điều kiện tiên quyết để chuyển từ chăn nuôi quảng canh nhỏ lẻ, tận dụng tr­ước đây sang chăn nuôi tập trung mang tính sản xuất hàng hóa, áp dụng kĩ thuật cao. Chất lượng cỏ trồng cao và ổn định, không phụ thuộc vào mùa vụ nh­ư cỏ tự nhiên, không sợ nhiễm độc từ thuốc trừ sâu và hoá chất độc hại khác. Kết hợp trồng cỏ với nuôi bò là biện pháp giữ gìn, bồi bổ và cải tạo đất hiệu quả nhất. Trồng cỏ thâm canh là h­ướng tích cực chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp và xóa nghèo ở nông thôn. Nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tăng thu nhập tính bằng tiền trên một đơn vị diện tích đất.

…………

“Hiện nay, chăn nuôi bò trên địa bàn xã Tân Trung, huyện Mỏ Cày Nam phát triển mạnh với tổng đàn trên 2.500 con nên nhu cầu thức ăn xanh cho đàn bò rất lớn. Nông dân ở đây tận dụng đất hoang, đất vườn trồng cỏ nuôi bò thu lãi hàng trăm triệu đồng mỗi năm.

Để đáp ứng nguồn thức ăn xanh phục vụ cho việc phát triển đàn bò, trong nhiều năm qua bà con nông dân xã Tân Trung đã trồng giống cỏ VA06 phục vụ cho đàn bò mang lại nhiều hiệu quả kinh tế. Đi đầu trong phong trào này là ông Nguyễn Văn Thiểu ở ấp Tân Hậu 2, xã Tân Trung. Sau nhiều năm bôn ba trên vùng sông nước bằng nghề chở mướn khắp nơi, làm ăn không khá, ông Thiểu bán ghe giải nghệ nghề đi buôn về đầu tư nuôi bò. Đất ít chỉ 3 công đất vườn, ban đầu ông Thiểu trồng cỏ xen trong vườn dừa nhưng không đáp ứng đủ nguồn thức ăn xanh cho đàn bò.

Được Trạm Khuyến nông huyện hướng dẫn và hỗ trợ giống, ông Thiểu đã tận dụng đất vườn trồng cỏ. Giống cỏ được ông Thiểu trồng là cỏ voi VA06. Ông Thiểu cho biết, cỏ VA06 giống cây mía cao xanh, ưu điểm của giống cỏ này thích hợp ở mọi vùng đất, nhất là vùng đất gò cao. Đây là giống cỏ chịu hạn tốt, ít chăm sóc, sinh trưởng phát triển nhanh, đẻ nhiều nhánh, giàu dinh dưỡng.

Chỉ với vài con bò khởi nghiệp nhờ trồng cỏ mà giờ đây mô hình nuôi bò của ông Thiểu đã được công nhận là trang trại. Để phát triển chăn nuôi và đáp ứng đủ nguồn thức ăn xanh cho bò, ông Thiểu đã thuê 2 ha đất trồng giống cỏ VA06. Sau 2 tháng, gia đình đã chủ động được nguồn thức ăn nên đàn bò của ông Thiểu mau lớn và tăng trọng nhanh. Với mô hình này ông Thiểu thường xuyên duy trì đàn bò ở mức từ 20 đến 30 con.

Ở xã Tân Trung hiện nay có nhiều hộ trồng cỏ với qui mô lớn. Từ mô hình trồng cỏ nuôi bò đã giúp nhiều hộ vươn lên làm giàu. Tính toán hiệu quả của mô hình trồng cỏ nuôi bò năm vừa qua, ông Thiểu bán 14 con bò,  mỗi con tùy lớn, nhỏ được ông bán với giá từ 10 triệu đến 26 triệu đồng, tổng nguồn thu nhập ngoài trăm triệu đồng mỗi năm. Cứ mỗi lứa bò ông Thiểu còn chọn bò nái để phát triển, tăng đàn và duy trì đàn bò ở mức ngoài 30 con.

Theo ông Thiểu, đây là giống cỏ có nhiều ưu thế. Cỏ VA06 sinh trưởng quanh năm, đẻ nhánh khỏe, một cây có thể đẻ nhiều nhánh, rễ chùm, phát triển rộng, ít bị sâu bệnh. Cỏ sau khi trồng 45 ngày thu hoạch lứa đầu tiên và có thể thu hoạch được 7 – 8 vụ trong năm. Cỏ VA06 đạt năng suất bình quân trên 350 tấn/ha/năm. Ngoài ra, nông dân có thể trồng cỏ VA06 vào bất cứ mùa nào, tốt nhất nên trồng vào mùa mưa, cỏ dễ sinh trưởng và phát triển tốt hơn. Giống như trồng mía, trên đất trồng cỏ ông Thiểu lên liếp để tiện cho việc chăm sóc và tưới nước. Khi bắt đầu trồng ông Thiểu đã cắt thân cỏ thành từng đoạn để tăng tỉ lệ sống.

Trồng cỏ không phải tốn nhiều phân bón đầu tư, mỗi năm ông Thiểu bón phân 2 lần chủ yếu là urê với liều lượng 400 – 500 kg/ha chia đều để bón thúc sau mỗi lần thu hoạch. Sau khi thu hoạch, phần gốc sẽ tự tái sinh vì vậy không phải trồng lại. Tuy nhiên, sau thời gian thu hoạch khoảng một năm, ông Thiểu chặt bỏ gốc đã già cỗi, trồng lại một lần nhằm đạt được năng suất cao. Ông Thiểu luôn chăm sóc cỏ khá tốt, vì vậy năng suất lên tới trên 350 tấn/ha/năm. Qua nhiều năm chăn nuôi bò khá thuận lợi, thành công của ông Thiểu trong việc trồng giống cỏ VA06 đáp ứng đủ nguồn thức ăn và dinh dưỡng vì vậy đàn bò của gia đình ông Thiểu lúc nào cũng khỏe mạnh, không thiếu nguồn thức ăn xanh. Đây là vật nuôi rất gần gũi với người nông dân, đầu năm 2011 mô hình nuôi bò của ông Thiểu đã được công nhận trang trại. Với ông Thiểu nuôi bò cho ăn cỏ này, bò phát triển nhanh bán được giá.

Từ mô hình của ông Thiểu mang về hiệu quả kinh tế lớn, trong định hướng phát triển kinh tế, xã Tân Trung cũng đã hoạch định nhiều giải pháp để phát triển chăn nuôi một cách bền vững. Trong đó, việc khuyến khích bà con nông dân trồng giống cỏ VA06 tạo nguồn thức ăn xanh cho đàn bò được chú trọng. Dự kiến trong thời gian tới, xã sẽ phát triển lên đến 70 ha đất trồng giống cỏ VA06 đáp ứng nguồn thức ăn xanh trong chăn nuôi bò thịt”.

…………….

“Hiện nay, nông dân ở hai huyện Đức Hoà và Đức Huệ (tỉnh Long An) đã chuyển hơn 2.500 ha đất trồng lúa nằm ở gò cao, năng suất thấp, sang trồng cỏ voi, cỏ long tây để cung cấp thức ăn phát triển đàn bò thịt, bò sữa.

Theo anh Trần Văn Hải, ấp Hoà Thuận 2, xã Hiệp Hoà (huyện Đức Hoà) cho biết: 2 năm nay anh chuyển 0,7 ha đất trồng một vụ lúa, năng suất 3 – 4 tấn/ha sang trồng cỏ voi. Mỗi năm anh thu hoạch 4 đợt với hơn 100 tấn cỏ, giá bán từ 900 – 1.000 đồng/kg, trừ chi phí thu lãi gần 90 triệu đồng, hiệu quả gấp 8 lần so với trồng lúa. Anh Lê Văn Tuyên, xã Mỹ Thạnh Bắc (huyện Đức Huệ) chuyển một ha đất trồng lúa nằm gò cao, thiếu nước tưới, đất bạc màu sang trồng cỏ long tây nuôi bò. Mỗi năm cỏ cho thu hoạch từ 5 – 6 đợt, với năng suất từ 160 – 180 tấn cỏ để nuôi 18 con bò sữa, bò thịt, mỗi năm anh thu lãi hơn 250 triệu đồng, hiệu quả kinh tế gấp10 lần so với trồng lúa. Nhờ chuyển đổi đất trồng lúa sang trồng cỏ nuôi bò, nông dân hai huyện Đức Hoà và Đức Huệ đã phát triển được gần 7.000 con bò sữa, trong đó hiện có 60% con đang cho sữa, mỗi ngày cung cấp hàng ngàn tấn sữa tươi cho thị trường. Nhiều hộ tham gia phong trào chuyển đổi đất trồng cỏ nuôi bò đã thoát nghèo và mỗi năm thu lãi từ 70 – 100 triệu đồng/năm”.

Kết luận: Ai đang ở những vùng đất bạc màu biết áp dụng mô hình này vào thực tế cuộc sống thì nhất định sẽ giàu. Đây là một mô hình làm kinh tế bền vững.

3. Điều kiện cần và đủ:

Sau đây là những điều kiện tối thiểu cần và đủ để bạn có thể thực hiện thành công ý tưởng này:

+ Bạn phải có đất rộng.

+ Bạn phải có một số vốn đủ để làm bờ bao khu đất, chuồng trại, hồ chứa nước …

+ Bạn phải nắm được kĩ thuật xây dựng mô hình trang trại.

+ Bạn phải kiên nhẫn đủ để theo đuổi ý tưởng.

+ Bạn phải là người chịu được cực khổ, yêu thiên nhiên, động vật …

+ Bạn phải là người cầu tiến, chu toàn, quản lí chặt chẽ tiền bạc …

4. Khó khăn và thuận lợi:  

Kinh doanh bất cứ lĩnh vực nào cũng có khó khăn và thuận lợi, nếu như bạn cảm thấy mình không thể vượt qua những khó khăn liệt kê dưới đây thì tốt nhất không nên chọn thực hiện ý tưởng này. Sau đây là một số khó khăn và thuận lợi điển hình khi bạn quyết định theo đuổi ý tưởng này:

Khó khăn:

+ Về kĩ thuật xây dựng mô hình trang trại, kinh doanh: Đây là bí mật công nghệ bạn phải liên hệ tác giả để được hướng dẫn thực hiện.

+ Về việc quản lí tiền bạc: Tiền bạc phải quản lí chặt, một đồng cũng không được thất thoát. Khi mua máy móc, dụng cụ … phải tính đến hiệu suất sử dụng, độ bền, an toàn … Sau một thời gian sử dụng phải thanh lí để máy móc, dụng cụ … luôn mới.

Thuận lợi:    

+ Đây là một ý tưởng kinh doanh khả thi, thiết thực.

+ Đầu tư một lần thu lợi nhiều lần.

+ Lợi nhuận cao.

+ Nhu cầu nhiều.

+ Góp phần bảo vệ môi trường sống.

+ Mô hình làm giàu bền vững, vừa có của cải vừa có sức khỏe, gia đình hạnh phúc.

+ Giải quyết việc làm cho những người cao tuổi nhàn rỗi, tàn tật vì có thể nhận những đối tượng này làm nhân viên.

5. Cách thức chuẩn bị và thực hiện:

Liên hệ Chat Master Club qua địa chỉ E-mail bên dưới để được hướng dẫn cụ thể:

chatmasterclub@yahoo.com

6. Duy trì và phát triển:

Liên hệ Chat Master Club qua địa chỉ E-mail bên dưới để được hướng dẫn cụ thể:

chatmasterclub@yahoo.com

Chat Master Club

04/12/2012

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s