Ý tưởng sản xuất quảng cáo

1. Ý tưởng:

Tôi thấy nhu cầu làm clip quảng cáo, vẽ bảng quảng cáo, in tờ rơi quảng cáo … (nói chung là làm tất cả những gì để quảng cáo) có nhu cầu rất lớn, thế nhưng hiện nay chưa có công ty nào hoạt động chuyên về biên tập, “sản xuất quảng cáo” tất cả các hoạt động liên quan đến quảng cáo thì thật là thiếu sót.

Đã gọi là xã hội thương mại thì làm gì cũng cần phải quảng cáo người ta mới biết đến mình, vậy mà rất nhiều người không biết trông cậy vào ai khi muốn đưa một thông điệp quảng cáo đến người tiêu dùng. Ví dụ, có một ai đó mở một tiệm bán kem, để thu hút sự chú ý của khách họ phải làm rất nhiều việc, xin kể ra một số việc cụ thể sau:

+ Trang trí cửa tiệm.

+ Sắp xếp, bố trí bàn ghế, tủ kem …

+ Thiết kế bảng hiệu.

+ Gây sự chú ý.

+ Truyền bá thông tin (như phát tờ rơi chẳng hạn).

………

Nói về “gây sự chú ý”, đơn giản họ có thể gắn một cái đèn chớp nháy hay để mô hình con thú nào đó trước tiệm … mà cũng không biết cách làm. Vấn đề không phải họ không có nhu cầu mà ai sẽ là người đáp ứng các nhu cầu ấy một cách tốt nhất để họ tìm đến.

Khi đưa ra ý tưởng này, tôi hình dung đến phạm vi hoạt động vô cùng lớn của nó. Mỗi khía cạnh lại có nhiều hình thức phục vụ khác nhau. Có thể nói “dòng chảy phát triển” không có điểm dừng.

Đèn chớp nháy thì có đèn này đèn kia, màu này màu kia, hình này hình kia, lắp đặt thế này lắp đặt thế kia … Ôi sao mà nói hết được. Chúng ta phải liệt kê ra, phải mô hình hóa cho họ thấy rằng chúng ta có cái này, cái kia nếu khách hàng yêu cầu thì sẽ được phục vụ thế này, thế kia thì họ mới lựa chọn sản phẩm, dịch vụ của chúng ta.

Cách đây vài hôm tôi có dịp đi qua một bến phà. Khi đang đứng ở nhà chờ tôi tình cờ nhìn lên trên trần thì thấy họ gắn trên đó một màn hình LCD chiếu liên tục các đoạn clip quảng cáo (hết một tour lại chiếu lại, cứ chiếu đi chiếu lại như vậy). Tôi chợt nghĩ rằng: Nhu cầu gắn các màn hình, biên tập các đoạn clip quảng cáo để trước cửa hàng, bến tàu, bến xe … là nhiều vô kể vậy mà tiếc rằng chưa có ai làm dịch vụ này. Ở các nước phát triển họ đã nói lời chia tay với bảng hiệu quảng cáo tĩnh, mà thay vào đó là các bảng quảng cáo động (thường là màn hình LCD) hết rồi. Chỉ tính riêng nhu cầu lắp đặt màn hình LCD quảng cáo thôi bạn cũng đã làm bở hơi tai nói chi đến phạm vi rộng “sản xuất quảng cáo” mà ý tưởng nêu ra.

Cái hay của ý tưởng là “bán dịch vụ” đang có nhu cầu rất cao, do đó lợi nhuận thu được sẽ khổng lồ trong khi rủi ro cực thấp. Giữa một nền kinh tế bát nháo bát nhào, người người tranh đua nhau để ngoi lên trong cuộc sống này, thậm chí ngay cả “tên tuổi”, “hình thể” … của cá nhân người ta cũng cần quảng cáo để người khác biết đến, thì việc khai thác mảng này một cách bài bản, chuyên nghiệp … sẽ giúp bạn chạm tay vào giàu có trong tương lai không xa. Tuy nhiên, ý tưởng nghe tên cũng như qua cách tóm tắt ngắn gọn trong vài trang giấy không thể nào lột tả những gì tôi muốn đề cập đến. Đây chỉ là những gợi ý cho những ai muốn thực hiện mà thôi. Nếu bạn là người quan tâm thật sự việc bạn cần làm đầu tiên là viết thư gửi cho tôi để trao đổi nghiêm túc về ý tưởng này. Muốn giàu có trước tiên phải biết khát khao và nâng tầm hiểu biết.

2. Hoàn cảnh khách quan:

1. QUẢNG CÁO TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

Như bạn đã biết, nền kinh tế thị trường tại Việt Nam khởi sắc từ đầu thập niên 90. Khi có nền kinh tế thị trường tức là có cạnh tranh. Có cạnh tranh thì việc phải quảng cáo và tiếp thị là điều bắt buộc.

Tổng chi phí cho quảng cáo tại Việt Nam tăng nhanh trong những năm vừa qua với tốc độ trên dưới 25% mỗi năm. Trong năm 2005, doanh số quảng cáo báo, đài và tivi là khoảng 320 triệu USD (theo TNS Việt Nam). Nếu tính cả các loại quảng cáo ngoài trời sẽ đạt trên dưới 400 triệu USD. Tổng chi phí cho ngành truyền thông tiếp thị tại Việt Nam – bao gồm cả quảng cáo, khuyến mãi, quan hệ công chúng, tiếp thị trực tiếp … hiện đã vượt con số một tỉ USD. Có lẽ các bạn cũng biết rằng hơn 80% ngân sách quảng cáo tại Việt Nam hiện nay đang được thực hiện bởi khoảng 30 công ty quảng cáo đa quốc gia. Phần còn lại được chia cho khoảng hơn 3.000 công ty quảng cáo Việt Nam (Theo số liệu của Hiệp hội QC Việt Nam).

Lãnh đạo của các doanh nghiệp làm quảng cáo và cả lãnh đạo của Hiệp Hội Quảng Cáo Việt Nam đều bức xúc tìm cách thay đổi tỉ lệ trên, nhưng cho tới nay vẫn chưa có được một giải pháp khả thi. Thông thường bất cứ công ty hàng tiêu dùng đa quốc gia nào khi thâm nhập vào thị trường Việt Nam đều có các công ty quảng cáo đa quốc gia đi kèm, thường được gọi là Đại lí quảng cáo song hành – Aligned advertising agency. Mặt khác, kể từ ngày luật doanh nghiệp tư nhân đi vào hiệu lực năm 1995, đến nay nền kinh tế thị trường tại Việt Nam mới phát triển được hơn 11 năm. Do đó, các doanh nghiệp quảng cáo của Việt Nam đều hoạt động một cách tự phát, không đủ tầm về năng lực lẫn tiềm lực để cạnh tranh với các hãng quảng cáo đa quốc gia chuyên nghiệp và hùng mạnh. Không chỉ ở Việt Nam, tình hình tương tự đang xảy ra ở tất cả các nước tại châu Á.

Vào thời điểm khởi đầu của ngành quảng cáo ở Việt Nam, quảng cáo ngoài trời là loại hình đầu tiên được thực hiện và đã phát triển rất nhanh chóng. Do nhu cầu bắt buộc phải làm quảng cáo của các tập đoàn đa quốc gia, hàng loạt các bảng quảng cáo ngoài trời mọc lên khắp nơi. Chính điều này tạo nên hiện tượng loạn bảng quảng cáo một thời, và sau đó đã được chấn chỉnh. Cùng với quảng cáo ngoài trời, các loại hình quảng cáo khác như báo, đài phát thanh và quảng cáo truyền hình cũng phát triển rất nhanh chóng.

Các doanh nghiệp làm quảng cáo Việt Nam rất nhanh chóng nắm bắt được các kĩ thuật, công cụ, máy móc tạo mẫu chế bản. Chẳng bao lâu, chúng ta đã có thể dễ dàng tạo ra những mẫu quảng cáo đẹp và bắt mắt.

Hiện nay, một số hãng quảng cáo nước ngoài tại Việt Nam hoạt động rất yếu kém và không hiệu quả. Do bế tắc về ý tưởng, họ thường nhờ công ty quảng cáo Việt Nam nghĩ giúp và thực hiện mẫu quảng cáo cho khách hàng của họ. Khi mẫu quảng cáo được duyệt, đương nhiên là công ty QC nước ngoài được hưởng phần lớn lợi nhuận. Các công ty quảng cáo Việt Nam – là nhà cung ứng dịch vụ thực sự – thì chỉ được hưởng số lẻ của lợi nhuận thu được.

Cho tới nay, giá thực hiện một mẫu quảng cáo báo, do các công ty quảng cáo Việt Nam thực hiện, thường nằm ở mức khoảng 5 triệu đồng, trong khi tại các hãng quảng cáo đa quốc gia, giá trung bình cho một ý tưởng quảng cáo có định hướng chiến lược sẽ vào khoảng từ 1.500 đến 3.000 USD. Vậy đâu là sự khác biệt giữa chất lượng dịch vụ của một công ty quảng cáo đa quốc gia và của một công ty quảng cáo của Việt Nam? Đâu là sự khác biệt giữa một ý tưởng quảng cáo 5 triệu đồng (khoảng 300 USD) của công ty QC Việt Nam và một ý tưởng quảng cáo 50 triệu đồng (khoảng hơn 3.000 USD) của một công ty quảng cáo đa quốc gia? Sự khác biệt về giá cả thực hiện mẫu quảng cáo không phải vì mẫu quảng cáo đẹp hay xấu, độc đáo hay tầm thường, mà nằm ở chỗ hiệu quả của quảng cáo – mẫu quảng cáo làm được những gì cho doanh nghiệp và cho thương hiệu được quảng cáo. Hầu hết các công ty QC Việt Nam đều được hình thành bắt đầu từ một phòng thiết kế tạo mẫu nhỏ. Chỉ cần vài ba cái máy tính, một căn phòng và vài người là đã có thể thành lập một công ty quảng cáo. Do vậy, những công ty QC Việt Nam thường chỉ tiếp cận được các khách hàng là doanh nghiệp Việt Nam, hoặc trở thành nhà cung ứng DVQC cho các công ty liên doanh thông qua những mối quan hệ cá nhân. Có một bức tường vô hình mà các công ty quảng cáo Việt Nam khó vượt qua được – đó chính là cách nghĩ và cách làm theo kiểu dựa trên các quan hệ cá nhân, qui mô nhỏ và hoàn toàn không theo các qui trình chuyên nghiệp. Ở hầu hết các công ty quảng cáo của Việt Nam, dựa trên đơn đặt hàng của bạn, thường các nhân viên thiết kế sẽ chúi đầu vào tìm trong thư viện ảnh lưu trữ một hình nào đó hay hay, có vẻ phù hợp rồi gắn sản phẩm của bạn vào đấy. Nếu mẫu thiết kế đó đẹp đẽ, chỉn chu thì bạn có thể phải trả đến vài triệu đồng cho công thiết kế tạo mẫu. Tại công ty quảng cáo đa quốc gia, những ý tưởng sáng tạo luôn là kết quả của cả một qui trình làm việc chuyên nghiệp dựa trên những phân tích, nghiên cứu và xử lí thông tin rất khoa học, mà đôi khi rất rất tốn kém, nhằm bảo đảm tạo ra được những quảng cáo mang lại hiệu quả bán hàng thực sự, chứ không chỉ đơn giản là các mẫu quảng cáo đẹp. Sự khác biệt lớn giữa một mẫu quảng cáo đẹp và một mẫu quảng cáo hiệu quả chính là qui trình sáng tạo – tức cách thức áp dụng để sáng tạo ra mẫu quảng cáo. Một mẫu quảng cáo hiệu quả được thực hiện theo một qui trình chuyên nghiệp và phức tạp hơn rất nhiều. Bắt đầu từ nghiên cứu phân tích các số liệu về thị trường, người tiêu dùng, nhóm khách hàng mục tiêu, các nhu cầu tiềm ẩn của khách hàng, phân tích đối thủ cạnh tranh, phân tích điểm mạnh yếu của sản phẩm …, công ty quảng cáo phải vạch ra được định hướng chiến lược nhằm đáp ứng các yêu cầu mà chương trình quảng cáo cần đạt được. Tất cả các bước thực hiện đều có những tiêu chí, những chỉ tiêu rất cụ thể và rõ ràng. Việc chọn lọc ý tưởng được thực hiện qua nghiên cứu thị trường và lấy ý kiến của người tiêu dùng (tức nhóm khách hàng mục tiêu). Sau khi chọn được mẫu quảng cáo, công đoạn thực hiện mẫu quảng cáo cũng phải chuyên nghiệp. Việc chụp hình hay quay phim, nếu có, cũng phải được các chuyên gia thực hiện (có những mẫu quảng cáo mà chỉ riêng chi phí thuê người mẫu và quay phim chụp ảnh đã lên tới hàng chục ngàn USD). Người thực hiện mẫu quảng cáo phải tạo được những lí do thuyết phục tác động đến người xem quảng cáo để mang lại hiệu quả bán hàng. Điểm yếu của các công ty quảng cáo Việt Nam trong việc tạo ra các quảng cáo giá trị cao là thiếu những người làm quảng cáo chuyên nghiệp và thiếu các qui trình chuyên nghiệp.

Hiện chỉ có một số rất ít công ty quảng cáo có được những chuyên viên quảng cáo giỏi. Đa số họ là nhân viên cũ của những công ty, những tập đoàn quảng cáo đa quốc gia, nay đã nghỉ việc và ra mở công ty riêng. Trong chừng mực nào đó, họ có được những kĩ năng của một người làm quảng cáo chuyên nghiệp. Tuy nhiên, họ không thể bù đắp được vào lỗ hổng lớn mà các công ty quảng cáo của Việt Nam luôn thiếu: Một “hệ thống quản lí” chuẩn mực với các qui trình làm quảng cáo chuyên nghiệp.

Lối thoát hẹp cho ngành quảng cáo Việt Nam hiện nay chính là sự liên kết và hợp tác với các tập đoàn quảng cáo nước ngoài, thuê mướn những nhân viên quảng cáo giỏi người nước ngoài vào làm trong công ty, tìm cách xây dựng hệ thống quản lý và áp dụng các phương pháp quản lý, các qui trình làm quảng cáo chuyên nghiệp. Theo xu hướng hội nhập và phát triển nhanh chóng của nền kinh tế Việt Nam, bất cứ một ai có tâm huyết với ngành quảng cáo và mong muốn vượt lên phía trước đều có cơ hội rất lớn.

Tất cả những thông tin, những kiến thức cần thiết để tạo nên, phát triển và điều hành một công ty quảng cáo chuyên nghiệp đều sẵn có trong sách vở. Bạn có thể tìm thấy rất nhiều sách có giá trị về ngành quảng cáo tiếp thị tại nhà sách. Điều cản trở lớn nhất cho các doanh nghiệp quảng cáo Việt Nam chính là tầm nhìn hạn hẹp, không dám nghĩ, không dám làm và không có một khát vọng đủ lớn.

2. ĐỊNH NGHĨA LẠI QUẢNG CÁO

Vào thời kì quảng cáo bắt đầu nở rộ vào giữa thế kỷ XIX, quảng cáo được thực hiện chủ yếu qua những bảng hiệu ngoài trời, trên những phương tiện giao thông, qua các tờ in và qua các tạp chí và báo. Do tạo được hiệu quả bán hàng ở mức độ cao và rộng khắp, các dạng quảng cáo qua báo và tạp chí trở nên phát triển nhanh chóng, mang lại lợi nhuận rất lớn cho các chủ báo. Số lượng và loại hình báo chí tăng lên nhanh như nấm mọc sau cơn mưa. Các công ty quảng cáo vào thời kì này hoạt động với tư cách là các đại lí bán chỗ trống trên trang báo cho những ai cần đăng quảng cáo. Do vậy các công ty này được gọi là Advertising Agency – tức đại lí quảng cáo – là từ ngữ mà cho tới nay vẫn được dùng trong ngành quảng cáo.

Công ty quảng cáo tạo thu nhập từ số tiền huê hồng do các báo trích lại. Do áp lực cạnh tranh, các công ty quảng cáo phải nỗ lực tạo mọi điều kiện hỗ trợ nhà quảng cáo – tức người bỏ tiền ra mua chỗ quảng cáo. Các công ty quảng cáo cạnh tranh bằng cách giúp nhà quảng cáo thực hiện các mẫu quảng cáo sao cho thật ấn tượng và mang lại hiệu quả bán hàng từ các mẫu quảng cáo.

Theo thời gian, các nhà quảng cáo nhận ra rằng vấn đề không chỉ nằm ở việc quảng cáo trên báo nào, mà lại phụ thuộc rất nhiều vào nội dung và kĩ thuật quảng cáo, tức là các hình ảnh và thông điệp được thể hiện trong mẫu quảng cáo. Do vậy, những đại lí quảng cáo nào có khả năng làm được các mẫu quảng cáo thật độc đáo, tạo được ấn tượng, giúp bán được nhiều hàng hoá thì sẽ có được nhiều khách hàng.

Cũng vào thời kì đầu này, thu nhập của các đại lí quảng cáo sẽ được tính bằng phần trăm trên tổng chi phí mua chỗ quảng cáo. Để tránh xảy ra tình trạng giảm giá, cạnh tranh không lành mạnh, Hiệp Hội Quảng Cáo của Mĩ đã thống nhất đưa ra mức huê hồng dành cho các công ty quảng cáo là 17,65% (thường gọi là commission fee) trên ngân sách quảng cáo báo và khoảng 20% (được gọi là mark – up) trên các chi phí để sản xuất ra mẫu quảng cáo.

Theo thời gian, do sự phát triển đa dạng của các kênh truyền thông cùng với mức độ chuyên môn hoá trở nên rất cao, không thể gói gọn các hoạt động quảng cáo trong thể loại in ấn (tức báo và tạp chí). Các loại hình quảng cáo ngày nay trải rộng từ quảng cáo in ấn (print ads) sang quảng cáo ngoài trời (outdoor ads), từ quảng cáo truyền hình (TVCs – tivi commercials) tới quảng cáo trực tuyến trên internet (web – banners), tới các dạng quảng cáo tại điểm bán (POSM – point of sales materials hay còn gọi là POP – point of purchases) hoặc thông qua dạng tài trợ cho những chương trình giải trí hoặc nhiều dạng quảng cáo khác.

Quảng cáo (Advertising) ngày nay phải được hiểu là Truyền Thông (Communication). Nói là “quảng cáo” nhưng chúng ta cần phải hiểu ở một tầm rộng hơn, không chỉ giới hạn ở các loại hình quảng cáo báo, đài hay tivi. Một chương trình quảng cáo ngày nay chính là cả một chương trình truyền thông tiếp thị tích hợp (IMC – Integrated Marketing Communication).

3. CÁC LOẠI CÔNG TY THỰC HIỆN QUẢNG CÁO

Trên thực tế, hiện nay có thể phân các công ty thực hiện công việc quảng cáo tại Việt Nam ra thành 3 nhóm, theo các đặc tính và chức năng riêng:

– Nhóm 1: Nhà quảng cáo.

– Nhóm 2: Các công ty cung ứng dịch vụ quảng cáo.

– Nhóm 3: Các công ty tư vấn quảng cáo.

3.1. NHÀ QUẢNG CÁO – Advertiser

Nhà quảng cáo chính là người có nhu cầu và bỏ tiền ra để thực hiện việc quảng cáo cho lợi ích của chính họ. Nhà quảng cáo có thể là:

– Các công ty sản xuất và kinh doanh.

– Các đại lí phân phối sản phẩm.

– Các tổ chức cung cấp dịch vụ y tế, giáo dục, luật …

– Các tổ chức xã hội, các đoàn thể, đảng phái, tôn giáo.

– Các cơ quan chính quyền, đoàn thể, các địa phương.

– Các nhân vật nổi tiếng.

3.2. CÁC CÔNG TY CUNG ỨNG DỊCH VỤ QUẢNG CÁO – (Advertising Service Supplier)

Đây là nhóm công ty cung cấp các dịch vụ rất cụ thể trong những mảng công việc quảng cáo và tiếp thị. Đặc điểm của loại hình dịch vụ này là nhà quảng cáo dễ dàng xem xét và đánh giá chất lượng dịch vụ ngay sau khi dịch vụ được thực hiện (chất lượng một mẫu thiết kế, một poster, một mẫu phim quảng cáo…). Do vậy rất thuận tiện cho nhà quảng cáo trong việc chọn nhà cung ứng dịch vụ cũng như ra quyết định chấp nhận thanh toán. Các công ty ở dạng này bao gồm:

a/ Công ty thiết kế tạo mẫu và in ấn. Là các công ty ứng dụng mĩ thuật vào quảng cáo tiếp thị. Do nhu cầu rất lớn của thị trường nên loại hình công ty này chiếm đa số trong các công ty cung cấp dịch vụ QC. Các dịch vụ cụ thể của công ty Thiết kế Tạo mẫu và In ấn:

– Thiết kế bao bì, nhãn hiệu, logo …

– Thực hiện các ấn phẩm QC.

– Thực hiện một số QC báo.

– Cung cấp dịch vụ in ấn.

– Thiết kế, thực hiện các vật dụng hỗ trợ bán hàng (POSM – Point of Sales Material).  b/ Công ty cung cấp dịch vụ quảng cáo ngoài trời. Là các công ty chuyên cung cấp dịch vụ QC qua các Pa – nô QC, bảng hiệu, hộp đèn, QC trên xe bus, tại trạm xe bus, băng – rôn, banner … Loại hình QC này xuất hiện tại VN rất sớm, mang lại siêu lợi nhuận vào thời kì đầu. Hiện nay do sự can thiệp của nhà nước về qui hoạch và cảnh quan đô thị nên có rất ít các bảng quảng cáo mới ra đời.

c/ Công ty làm phim QC và các dịch vụ hậu kì. Kể từ khi tivi ra đời, phim quảng cáo đã trở thành một bộ phận không thể thiếu được trong các chương trình truyền hình. Với đà phát triển của kĩ thuật và chi phí rất lớn của nhà quảng cáo, ngành làm phim quảng cáo ngày nay đã trở thành một ngành mang lại lợi nhuận cao. Nhiều công ty sẵn sàng đầu tư hàng triệu USD vào các dàn máy làm phim chuyên dụng để giành lấy các hợp đồng làm những bộ phim QC trị giá cả trăm ngàn, hay hàng triệu USD. Chất lượng của phim QC phụ thuộc nhiều vào các thiết bị và cả trình độ chuyên môn của người làm phim (tức nhà sản xuất, đạo diễn, người quay phim, dựng phim, diễn viên, chất lượng hình ảnh – Betacam, HD hay phim nhựa 35 mm …).

d/ Các phòng chụp ảnh chuyên nghiệp. Những studio chụp ảnh chuyên nghiệp được trang bị các máy móc chuyên dụng, do các nhiếp ảnh gia có tay nghề cao đảm nhiệm.
Ngoài việc chụp ảnh chất lượng cao (giá chụp một bức ảnh chất lượng cao có thể lên đến cả ngàn đôla Mĩ), nhiều studio ảnh còn thực hiện các dịch vụ chỉnh sửa màu sắc, tạo kĩ xảo hình ảnh hay thực hiện ghép ảnh bằng các hệ thống máy tính chuyên dụng. Với sự phát triển vượt bậc của công nghệ máy tính, ngày nay ngành nhiếp ảnh đã thay đổi tận gốc và tạo ra được những bức ảnh ngoài sức tưởng tượng của người bình thường.

e/ Công ty sản xuất các vật phẩm quảng cáo. Do tình trạng quảng cáo quá tải trên các kênh thông tin truyền thống nên việc dùng vật phẩm để quảng cáo đang là một xu hướng lớn của thị trường. Vật phẩm quảng cáo là sản phẩm không thể thiếu được trong các hoạt động quảng cáo tiếp thị. Từ cái xâu chìa khóa, cái nón, cặp da, áo mưa … và vô vàn các vật dụng khác được gắn logo hay thông điệp của nhà quảng cáo để tạo nên những kênh truyền thông mới có hiệu quả cao.

f/ Công ty tiếp thị trực tiếp. Các công ty cung cấp dịch vụ Direct Marketing tiếp cận trực tiếp với người tiêu dùng để gởi tới họ các thông điệp tiếp thị cần thiết như:

– Direct mail.

– Telemarketing.

– E – Marketing.

– Door – to – door marketing.

g/ Công ty cung cấp các dịch vụ nghiên cứu thị trường. Các số liệu về thị trường là cơ sở chính để phân tích và từ đó đưa ra các quyết định kinh doanh cũng như quảng cáo tiếp thị.

Tại VN hiện nay có rất ít các công ty nghiên cứu thị trường chuyên nghiệp. Phần lớn các công ty NCTT chỉ thực hiện được một số dịch vụ đơn giản và ở diện hẹp. Giống như ngành QC, đây cũng là một ngành rất mới. Các dịch vụ chính của NCTT bao gồm: Nghiên cứu tâm lí mua hàng, thói quen mua hàng – Tìm hiểu những mong muốn tiềm ẩn của người tiêu dùng về một loại sản phẩm – Thu thập và cung cấp các số liệu về thị trường, thị phần, mức độ nhận biết, đối thủ cạnh tranh …

h/ Chủ của các phương tiện truyền thông. Các chủ báo đài là những đối tác hết sức quan trọng của nhà quảng cáo. Không chỉ là các phương tiện cung cấp tin tức mới, các kênh truyền thông này giúp giới thiệu sản phẩm hay dịch vụ đến với người tiêu dùng một các nhanh nhất và hiệu quả nhất. Tại Việt Nam, tất cả các phương tiện truyền thông này đều nằm dưới sự quản lí của nhà nước nên ảnh hưởng của báo, đài … đối với nhà quảng cáo là rất lớn.

i/ Các loại công ty khác. Tất cả các công ty khác những công ty kể trên nhưng không thường xuyên tham gia thực hiện các dịch vụ quảng cáo như: Công ty xây dựng (thiết kế các loại quầy kệ, gian hàng hội chợ), công ty tổ chức các dịch vụ hậu mãi, công ty vận tải …

3.3. CÁC CÔNG TY TƯ VẤN QUẢNG CÁO – (Advertising Services Agency)

Điểm khác biệt của dịch vụ tư vấn quảng cáo so với các dịch vụ quảng cáo cụ thể khác nằm ở chỗ: Thường không thể thấy ngay chất lượng của các dịch vụ tư vấn, mà chỉ thấy được sau khi đã bỏ tiền ra thực hiện chương trình quảng cáo tiếp thị.

Để đánh giá được hiệu quả của một dịch vụ tư vấn, nhà quảng cáo phải có kiến thức và kinh nghiệm cần thiết. Ở phía ngược lại, các công ty tư vấn quảng cáo cũng phải có đủ kĩ năng và lí lẽ để thuyết phục nhà quảng cáo.

Thông thường, việc tư vấn sẽ giúp nhà quảng cáo có được tầm nhìn rộng và rõ ràng về thị trường, về ngành hàng và người tiêu dùng. Qua đó, nhà quảng cáo có thể đưa ra được những chiến lược hoặc các kế hoạch nhằm tạo ra những thế mạnh trong kinh doanh, mở rộng thị phần, mở rộng nhóm khách hàng mục tiêu hoặc đón đầu những xu hướng tiêu dùng của thị trường.

Các công ty cung ứng dịch vụ quảng cáo sẽ thực hiện các dịch vụ cụ thể theo yêu cầu của Nhà quảng cáo – nói gì làm nấy, chỉ đâu đánh đó. Còn các công ty tư vấn quảng cáo sẽ phải là người vạch ra các định hướng đồng thời chỉ cho nhà quảng cáo thấy phải làm gì và làm như thế nào vào từng thời điểm.

Dịch vụ tư vấn quảng cáo tiếp thị là công việc sáng tạo ra, rồi bán các ý tưởng và các giải pháp truyền thông tiếp thị. Đây chính là loại công việc đòi hỏi phải có kiến thức thực tế, và nhiều kĩ năng chuyên môn, nhưng cũng thực sự mang lại lợi nhuận ở mức cao nhất.

Có 4 loại công ty khác nhau trong nhóm công ty cung cấp các dịch vụ về tư vấn:
a/ Công ty quảng cáo trọn gói (Full Service Advertising Agency)

Đây là dạng công ty tư vấn thực hiện đầy đủ tất cả các dịch vụ quảng cáo.
Điểm khác biệt đối với các nhà cung ứng dịch vụ quảng cáo ở chỗ: Các công ty quảng cáo trọn gói có thể tư vấn cho nhà quảng cáo cách sử dụng ngân sách truyền thông hiệu quả nhất. Bắt đầu từ việc tư vấn về chiến lược phát triển thương hiệu, chiến lược sáng tạo và chiến lược truyền thông, công ty quảng cáo trọn gói sẽ đại diện cho nhà quảng cáo thực hiện và giám sát trọn vẹn tất cả các khâu của hoạt động quảng cáo tiếp thị sao cho đạt hiệu quả cao nhất.

b/ Công ty dịch vụ truyền thông (Media Agency)

Đây là các công ty chuyên cung cấp dịch vụ quảng cáo trên các phương tiện truyền thông đại chúng như tivi, báo, tạp chí, radio, và các loại hình quảng cáo ngoài trời khác. Đại lí truyền thông sẽ cung cấp cho nhà quảng cáo các dịch vụ như: Lập chiến lược và kế hoạch truyền thông, đại diện cho nhà quảng cáo để thương lượng mua chỗ trên báo, đài truyền thanh, truyền hình, theo dõi quá trình quảng cáo và phân tích, đánh giá các thông tin, dữ liệu thu được sau mỗi đợt quảng cáo. Ngoài ra, đại lí truyền thông còn phải tư vấn cho nhà quảng cáo triển khai, sử dụng các kênh truyền thông mới.

c/ Công ty dịch vụ quan hệ cộng đồng (Public Relation Agency)

Quan hệ cộng đồng là dạng hoạt động ngày càng quan trọng trong quá trình quảng cáo tiếp thị. Các chương trình P.R, các sự kiện tiếp thị sáng tạo mang lại hiệu quả vô cùng lớn, nhiều khi có thể thay đổi hoàn toàn cục diện cạnh tranh giữa các nhãn hiệu. P.R còn được xem là dạng hoạt động tiếp thị hiệu quả và ít tốn kém nhất hiện nay.
Tại Việt Nam hiện nay còn ít các công ty thực sự có khả năng và hiểu biết để thực hiện các chương trình P.R. hiệu quả.

d/ Công ty dịch vụ tư vấn tiếp thị (Marketing Consultant Services)

Đây là loại hình dịch vụ rất mới tại VN. Các công ty loại này chuyên tư vấn cho khách hàng hướng chiến lược trong các hoạt động kinh doanh tiếp thị, tư vấn các chiêu thức bán hàng, khuyến mãi, đào tạo nhân sự, cơ cấu tổ chức các bộ phận tiếp thị, quảng cáo, bán hàng … Các công ty Tư vấn Tiếp thị thường rất nhỏ gọn, chỉ có một vài chuyên viên cho từng loại hình hoạt động QC tiếp thị.

Hiện nay các công ty quảng cáo Việt Nam thường nhận làm tất tật mọi thứ, đáp ứng cho mọi loại nhu cầu của khách hàng, phần nào làm được thì làm, nếu không làm được thì chạy đi tìm người làm giúp. Do vậy, hầu hết các dịch vụ quảng cáo tại Việt Nam hiện nay đều không mang tính chuyên nghiệp, không đạt được mức độ hiệu quả cần thiết và chỉ có khả năng hoạt động ở mức công ty cung ứng dịch vụ QC, khó phát triển lên để trở thành các công ty tư vấn quảng cáo.

4. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA NGÀNH QUẢNG CÁO THẾ GIỚI

Từ cả ngàn năm trước, con người đã biết cách làm quảng cáo. Mục đích quảng cáo là để bán hàng, hoặc để tác động vào đám đông, tạo ra các lợi thế về uy tín cá nhân, các mục đích chính trị hoặc quân sự. Kênh truyền thông chủ yếu dựa vào cơ chế phát tán tin đồn truyền miệng.

Ngành quảng cáo chỉ thực sự phát triển khi cuộc cách mạng công nghiệp bùng nổ vào thế kỉ 19. Máy móc được chế tạo ra đã giúp sản xuất hàng hoá nhanh và rẻ hơn, dễ dàng hơn. Sự cạnh tranh xuất hiện khi có nhiều nhà sản xuất làm ra cùng một loại hàng hoá khiến cung vượt cầu. Muốn bán được hàng thì quảng cáo là điều tất yếu.

Ngành quảng cáo bắt đầu phát triển mạnh vào giai đoạn cuối của thế kỷ 19.
Cho tới nay ngành quảng cáo đã đi được một chặng đường dài cùng với sự xuất hiện của nhiều kênh thông tin mới và các phương pháp quảng cáo mới.

Lịch sử phát triển của quảng cáo từ cuối thế kỉ 19 tới nay có thể chia ra thành 5 giai đoạn, gắn liền với sự ra đời của các chiến lược quảng cáo như sau:

1/ Quảng cáo chân thật – Story-telling advertising. Giai đoạn từ thế kỉ 19 đến giữa thế kỉ XX.

2/ Quảng cáo điểm mạnh của sản phẩm – USP advertising. Từ thập nên 40 thế kỉ XX.

3/ Quảng cáo xây dựng hình ảnh – Image Advertising. Từ thập niên 60 của thế kỉ XX.

4/ Quảng cáo định vị thương hiệu – Positioning advertising. Từ thập niên 80 của thế kỉ XX.

5/ Chương trình truyền thông tiếp thị tích hợp IMC. Từ thập niên 90 của thế kỉ XX.

4.1. QUẢNG CÁO CHÂN THẬT

Đây là cách quảng cáo vào thời kì đầu tiên, nói về sản phẩm một cách hay ho, hấp dẫn và chân thật, giúp giành được sự chú ý và cảm tình của mọi người đối với sản phẩm và thương hiệu. Quảng cáo chân thật giúp mô tả, định nghĩa về một sản phẩm hay một nhãn hiệu và nêu các ích lợi của sản phẩm đối với người tiêu dùng. Kĩ thuật thể hiện thường dùng là kể một câu chuyện, hay một tình huống rất độc đáo, rất thu hút và khéo léo lồng ghép ích lợi của sản phẩm (hay dịch vụ) vào trong cốt truyện. Điểm quan trọng của chiến lược này là làm sao thể hiện được khả năng đáp ứng một nhu cầu cụ thể nào đó của khách hàng ở mức cao nhất và độc đáo nhất theo tiêu chí: “Hãy nói cho khách hàng biết họ được cái gì, thay vì chỉ giới thiệu là mình có cái gì”.

4.2. QUẢNG CÁO ĐIỂM MẠNH CỦA SẢN PHẨM (USP)

Để tạo ra sự vượt trội hay điểm khác biệt so với đối thủ cạnh tranh, thương hiệu phải có một điểm mạnh khác biệt. Quảng cáo điểm mạnh của sản phẩm giúp thuyết phục người tiêu dùng nhanh hơn. Vào những năm 40 thế kỉ XX, Rosser Reeves – người đồng sáng lập ra công ty quảng cáo Ted Bates & Company (tiền thân của Bates Worldwide Advertising) đã đưa ra khái niệm về USP (Unique Selling Proposition) và chiến lược này đã trở thành tiêu chí chủ đạo cho tất cả các quảng cáo của công ty Ted Bates.

Điểm cốt lõi trong chiến lược quảng cáo USP là: “Nếu muốn bán được hàng, mẫu quảng cáo phải chỉ ra, phải nêu lên được một điểm mạnh vượt trội (hay độc đáo) của sản phẩm”. Nếu sản phẩm không có gì đặc sắc thì chúng ta cần phải tìm và tạo ra cho nó một giá trị độc đáo nào đó phù hợp để có thể đáp ứng được những nhu cầu mới của người tiêu dùng và để cho họ một lí do mua hàng. Ví dụ:

– “Dầu gội Dove – Có 1/4 hàm lượng kem dưỡng da”.

– “Sữa bột Anlene – Loại sữa giàu can – xi tốt cho xương”.

4.3. QUẢNG CÁO XÂY DỰNG HÌNH ẢNH THƯƠNG HIỆU

Một thương hiệu mạnh luôn gắn liền với những hình ảnh, những biểu tượng đặc trưng – tạo nên sự khác biệt và tạo ấn tương mạnh về thương hiệu. Việc dùng quảng cáo để tạo ra một nhân vật, hoặc một biểu tượng đại điện cho thương hiệu đã giúp tạo nên nhiều thương hiệu ngày nay như: Chàng Cow Boy của Marlboro, Chú sư tử của kem Wall, chàng hề Ronan của McDonald’s, chuột Mickey của WalDisney.

Tại thị trường Việt Nam, công ty quảng cáo Stormeye đã áp dụng chiến lược này để tạo dựng thành công một số thương hiệu như bé Bino cho tã giấy Bino, gia đình đậu nành cho sữa đậu nành Somilk, ông đầu bếp cho nước tương Chinsu …

David Ogilvy cùng với Leo Burnett được coi là những người đầu tiên xác lập nên cách quảng cáo này. Mẫu quảng cáo cho áo sơ mi Hathaway do David Ogilvy thực hiện đã được ghi vào lịch sử ngành quảng cáo. Hình ảnh người đàn ông với miếng che mắt đã trở thành biểu tượng cho phương pháp quảng cáo tạo dựng hình ảnh thương hiệu (Image Advertising).

Bản chất của chiến lược quảng cáo này là xây dựng nên một nhân vật, một biểu tượng đại diện cho thương hiệu và tạo được các ấn tượng cần thiết cho người tiêu dùng.

Đây là một ví dụ khác về chiến lược quảng cáo tạo dựng hình ảnh thương hiệu: Chiến dịch quảng cáo cho Marlboro nổi tiếng do nhà quảng cáo huyền thoại Leo Burnett thực hiện, giúp tạo dựng nên thương hiệu thuốc lá lớn nhất thế giới Marlboro. Trong lịch sử ban đầu của mình, Marlboro được quảng cáo như là một loại thuốc lá dành cho phụ nữ và không mấy thành công. Khi nhận lời làm quảng cáo cho thương hiệu này, Leo Burnett đã đề nghị thay đổi cách thức quảng cáo và đối tượng khách hàng. Ông sử dụng một anh chàng Cowboy làm nhân vật đại diện cho thương hiệu, để tạo nên một thương hiệu có những tính cách rất nam tính, rất phong trần và mạnh mẽ. Chiến dịch quảng cáo này đã mang lại những thành công lớn và được áp dụng liên tục trong hơn 50 năm trời. Các quảng cáo của Marlboro không chỉ tạo nên một thương hiệu trị giá hơn 20 tỉ đô la Mỉ mà còn tạo ra cả một hình ảnh nước Mĩ tuyệt vời, một nước Mĩ trong mơ (American Dream Country) với các chàng cao bồi phong trần, hào hùng và rất lịch lãm.

4.4. QUẢNG CÁO ĐỊNH VỊ THƯƠNG HIỆU

Sau một thời gian dài tăng trưởng, tốc độ phát triển của ngành quảng cáo bị chựng lại vào những năm 70 của thế kỈ XX. Khi tất cả các công ty lớn đều liên tục tăng ngân sách cho quảng cáo tiếp thị và bành trướng ra thị trường quốc tế. Người tiêu dùng bắt đầu bị dội bom quảng cáo và đã phản ứng lại bằng một cơ chế sàng lọc thông tin, bỏ qua các thông điệp quảng cáo tương tự nhau. Hiệu quả của quảng cáo giảm sút mạnh trong khi chi phí lại tăng không ngừng. Quảng cáo dựa trên chiến lược định vị thương hiệu chính là giải pháp, là lối thoát duy nhất cho ngành quảng cáo trong tình thế này.

Khi một thương hiệu mạnh thực sự thì tên thương hiệu sẽ là định nghĩa thỏa mãn cho một nhu cầu cụ thể của người tiêu dùng. Tại Ấn Độ, người ta dùng chữ Colgate để thay cho chữ “kem đánh răng”, ở Việt Nam, trong một thời gian dài, người dân miền Nam dùng chữ Honda để chỉ bất kì loại xe máy nào – “Hon da” có nghĩa là “xe gắn máy”.

Chiến lược định vị thương hiệu thực chất là một mức phát triển cao hơn của chiến lược quảng cáo USP. Hai tác giả Al Ries và Jack Trout đã trình bày các khái niệm về kĩ thuật này rất thú vị trong cuốn sách của họ viết vào đầu thập kỷ 80 thế kỷ XX “Positioning: The battle for your mind”.

Định vị thương hiệu chính là xây dựng cho thương hiệu một vị trí riêng biệt trong đầu người tiêu dùng, tượng trưng cho một nhu cầu cụ thể mà thương hiệu sẽ đáp ứng được một cách hoàn hảo nhất. Ví dụ:

– Double Mint là loại kẹo cao su làm hơi thở thơm tho (chứ không phải là ngon, hay nhai cho vui miệng).

– Close Up là loại kem đánh răng làm trắng răng thơm miệng.

– Colgate là loại kem đánh răng giúp răng chắc – bảo vệ răng.

4.5. CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN THÔNG TIẾP THỊ TÍCH HỢP – IMC (Integrated marketing communication)

Trong tình hình hiện nay, việc xây dựng thương hiệu bằng quảng cáo là chưa đủ. Do lượng thông tin người tiêu dùng phải ghi nhận mỗi ngày đã quá tải, cơ hội để một quảng cáo trên báo hay tivi có đủ ấn tượng nhằm tác động và thuyết phục người tiêu dùng trở nên rất thấp. Theo những nghiên cứu của Viện Gallup (hãng nghiên cứu thị trường lớn nhất của Mĩ): Vào năm 1965, chỉ cần chạy một quảng cáo tivi 3 lần trong 3 ngày liên tục vào giờ cao điểm trên một kênh truyền hình quốc gia, thì có thể đạt được mức độ nhận biết thương hiệu của nhóm các bà nội trợ là 90%. Vào năm 2002, số lần chạy quảng cáo cần thiết để đạt được mức nhận biết 90% là 137 lần vào giờ cao điểm. Hiệu quả của các kênh truyền thông đã giảm sút một cách tệ hại, trong khi đó chí phí để đăng quảng cáo lại tăng cao đến mức khó có thể chấp nhận được. Do vậy, nếu chỉ chạy đơn thuần quảng cáo là chưa đủ, và cũng khó có thể mang lại hiệu quả cần thiết. Giải pháp tốt nhất cho tình trạng khủng hoảng này là gì? Câu trả lời chính là IMC.

IMC – Integrated Marketing Communication – Chương trình truyền thông tiếp thị tích hợp là việc tập trung rất nhiều dạng hoạt động tiếp thị vào cùng một thời điểm và đưa ra cùng một thông điệp, hình ảnh giống nhau đã được tính toán trước để tạo nên một tập hợp ấn tượng rất mạnh nhằm thuyết phục khách hàng. Hiện nay các thương hiệu phải được xây dựng bằng các chương trình IMC được thiết kế theo tình hình kinh doanh. Các Thành phần của IMC: Những người làm Marketing thường chia các hoạt động quảng cáo tiếp thị ra thành 2 nhóm lớn:

1/ Các hoạt động ATL (Above The Line activities).

2/ Các hoạt động BTL (Below The Line activities).

ATL được hiểu là các quảng cáo thông qua những phương tiện thông tin đại chúng, tiếp cận với số đông (như QC tivi, QC báo & tạp chí, QC ngoài trời).

BTL là các hoạt động tiếp thị khuyến mãi tại các điểm bán hoặc tiếp thị trực tiếp đến người tiêu dùng, tác động vào một nhóm nhỏ khách hàng.

Ngày nay, các dạng hoạt động tiếp thị mới liên tục xuất hiện và phát triển mạnh mẽ. Chúng ta có thể kể đến những dạng khác như các hoạt động “Quan hệ công chúng” tức P.R. (Public Relation), các chương trình khuyến mãi (Promotion campaign), tham gia tài trợ cho những sự kiện thể thao, văn hoá, giải trí, những trò chơi truyền hình (Game Show), các chương trình phát hàng mẫu, cho dùng thử sản phẩm hay dịch vụ, các chương trình tiếp thị online, telemarketing hay direct marketing … Tùy theo cách chia nhóm của nhà tiếp thị mà chúng ta sẽ có 3, 4, 5 hay 6 nhóm các dạng hoạt động tiếp thị – là những thành phần của một chương trình IMC. Sau đây là một cách phân nhóm các hoạt động của IMC:

1/ ATL (Mass Advertising – TV, Radio, Print & Outdoor Ads).

2/ BTL (Trade Marketing – POP-Point Of Purchasing, dùng các vật phẩm & ấn phẩm quảng cáo tại điểm bán như poster, banner, standee, dây cờ, kệ trưng bày …)

3/ Promotion Campaign & Sampling (các loại chương trình khuyến mãi và cho dùng thử sản phẩm).

4/ Direct marketing & Activations (các hoạt động tiếp thị trực tiếp, tác động thẳng đến người tiêu dùng tại gia đình, tại điểm bán hoặc những nơi công cộng).

5/ Public Relation & Event (các hoạt động tạo tin mới và đưa tin qua báo đài và các dạng tài trợ tạo sự kiện công chúng).

6/ Brand Inovation Activities – các hoạt động đổi mới thương hiệu (đưa ra sản phẩm cải tiến, đổi mới bao bì, đổi mới hình ảnh, đổi mới thông điệp …).

Trong một chương trình quảng cáo (mà chúng ta phải hiểu là chương trình truyền thông) hiện nay, ta cần phải xem xét và có thể áp dụng một vài hoặc tất cả các chiến lược quảng cáo nêu trên. Một chương trình quảng cáo hiệu quả phải nói lên được sự thật về ích lợi của sản phẩm, phải nêu được điểm mạnh của thương hiệu, phải đồng nhất trong thông điệp quảng cáo và phải tác động tới người khách hàng mục tiêu ở những kênh truyền thông phù hợp nhằm tạo nên hiệu quả tổng lực.

5. CÁC KĨ THUẬT QUẢNG CÁO THÔNG DỤNG

Song song với các chiến lược quảng cáo nêu trên còn tồn tại hàng loạt cách thức thể hiện khác nhau để gởi thông điệp quảng cáo tới người tiêu dùng. Cần lưu ý: Để tránh sự lẫn lộn giữa chiến lược quảng cáo và kĩ thuật quảng cáo. Chiến lược quảng cáo chính là định hướng cho các hoạt động quảng cáo. Nó chỉ ra cho ta biết phải đi theo hướng nào để đến được đích. Kĩ thuật quảng cáo là việc làm cụ thể hơn nhiều – đó là các cách thể hiện, cách thu hút đối tượng mục tiêu để gởi thông điệp quảng cáo cho họ. Nói một cách nôm na, đó chính là phải dùng loại xe nào làm phương tiện tốt nhất, giúp đưa ta tới đích nhanh và hiệu quả nhất.

Quảng cáo sáng tạo là một kĩ thuật quảng cáo. Đây là dạng quảng cáo tạo hiệu quả rất cao bằng cách khéo léo để người xem quảng cáo phải tự học cái mà ta muốn họ phải nhớ về sản phẩm và thương hiệu. Bắt đầu từ thập niên 50, Bill Bernbach cùng với công ty quảng cáo huyền thoại Doyle Dane Bernbach (DDB) đã triển khai áp dụng kĩ thuật quảng cáo sáng tạo và đã tạo ra hàng loạt các quảng cáo nổi tiếng thế giới như : “Avis – we are number 2, we try harder”, “Ohrbach’s”, “Volkswagen – lemon” …

Nhà quảng cáo huyền thoại David Ogilvy đã liệt kê ra 14 kĩ thuật thể hiện quảng cáo khác nhau trong cuốn sách “Ogilvy on Advertising” như sau:

1. Humor – Quảng cáo tiếu lâm gây cười để thể hiện đặc tính hay lợi ích của sản phẩm.

2. Slice of life – Đặc tả một hoàn cảnh, một tình huống trong cuộc sống thường ngày khi người tiêu dùng sử dụng sản phẩm như một giải pháp cho nhu cầu của khách hàng.

3. Testimonial – Người tiêu dùng phát biểu & cảm nhận tốt về sản phẩm.

4. Demontration – Trình diễn các điểm mạnh vượt trội hoặc điểm khác biệt của sản phẩm.

5. Problem & solution – Nêu vấn đề và đưa ra giải pháp.

6. Talking head – Dùng một nhân vật như người chào hàng – đại diện cho công ty, giới thiệu trực diện với người tiêu dùng về các đặc điểm vượt trội của sản phẩm.

7. Characters – Tạo ra các nhân vật đại diện cho thương hiệu.

8. Reason why – Chỉ ra lý do tại sao bạn nên mua sản phẩm.

9. News – Tin mới về sự độc đáo mới mẻ của sản phẩm.

10. Emotion – Tác động tạo cảm xúc bằng các tình huống, câu chuyện đắt giá.

11. Endorsement – Chứng nhận bởi chuyên gia.

12. Celebrities – Sản phẩm của người nổi tiếng.

13. Cartoons – Dùng phim hoạt hình với một nhân vật để kể câu chuyện về sản phẩm và thương hiệu được quảng cáo.

14. Musical Vignetts – Quảng cáo bằng đoạn phim ca nhạc.

Một cây đại thụ khác của ngành quảng cáo thế giới – John Caples – tác giả cuốn Tested Advertising Methods – lại đưa ra một số định hướng khác để thể hiện quảng cáo như sau:

1. Sex/sex appeal – Thể hiện về sự yêu đương, tình bạn, các mối quan hệ, sự quyến rũ …

2. Greed – Tất cả mọi thứ dính đến tiền bạc vật chất để tác động vào lòng tham của con người.

3. Fear – Tác động tạo ra nỗi lo sợ để tìm tới sản phẩm được quảng cáo như một giải pháp mang lại sự an toàn.

4. Duty/Honor/Professionalism – Thể hiện các giá trị tinh thần có được thông qua sự cống hiến, qua việc thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm.

Ngoài ra còn một kĩ thuật quảng cáo mang lại hiệu quả cao – đó là dạng quảng cáo tương tác (Interactive advertising), do nhà quảng cáo huyền thoại Howard Gossage khởi xướng. Loại quảng cáo này với những thông tin tác động trực tiếp tới người xem, mời gọi hay kích thích để họ có những phản ứng, hành động phản hồi lại các thông tin mà mẫu quảng cáo đưa ra.

Trong một mẫu quảng cáo, người làm quảng cáo có thể dùng một hoặc nhiều kĩ thuật cùng lúc để thể hiện thông điệp quảng cáo. Tuy nhiên, tất cả các mẫu quảng cáo thành công đều được áp dụng kĩ thuật quảng cáo sáng tạo (tức có thể hiện yếu tố độc đáo, ấn tượng khác biệt).

Các cuộc thi về quảng cáo sáng tạo trên thế giới chỉ tập trung lựa chọn các mẫu quảng cáo được áp dụng theo kĩ thuật “Quảng cáo sáng tạo”. Cũng giống như một cuộc thi âm nhạc chuyên về thể loại Piano, chỉ chú trọng về so sánh tài năng sử dụng một loại nhạc cụ (là Piano) để mê hoặc người nghe. Nếu bạn gửi một quảng cáo theo kiểu Testimonial hoặc Talking head … mà không phải là quảng cáo sáng tạo thì giống như là bạn đang làm trò cười cho thiên hạ.

3. Điều kiện cần và đủ:

Sau đây là những điều kiện tối thiểu cần và đủ để bạn có thể thực hiện thành công ý tưởng này:

+ Bạn phải có một số vốn khoảng 10 triệu VND. Số vốn này bạn sẽ dùng để mua sách vở, phần mềm, tham gia các khóa học …; lập trang web; quảng cáo; giao dịch …

+ Bạn phải nắm được kĩ thuật “sản xuất quảng cáo”.

+ Bạn phải kiên nhẫn đủ để theo đuổi ý tưởng.

+ Bạn phải am hiểu về internet, thiết kế web, logo, slogan, banner và có khiếu chọn hình ảnh, viết bài đăng trên web.

+ Bạn phải là người có khiếu giao tiếp, sáng tạo, tỉ mỉ …

+ Bạn phải am hiểu cơ bản về các thủ tục pháp lí trong lĩnh vực quảng cáo.

+ Bạn phải là người cầu tiến, chu toàn, quản lí chặt chẽ tiền bạc …

4. Khó khăn và thuận lợi:  

Kinh doanh bất cứ lĩnh vực nào cũng có khó khăn và thuận lợi, nếu như bạn cảm thấy mình không thể vượt qua những khó khăn liệt kê dưới đây thì tốt nhất không nên chọn thực hiện ý tưởng này. Sau đây là một số khó khăn và thuận lợi điển hình khi bạn quyết định theo đuổi ý tưởng này:

Khó khăn:

+ Về việc lập web: Nhiều người cứ cho rằng lập web không có gì khó, thật ra để có một trang web thú vị lôi cuốn khách hàng là điều không hề dễ dàng. Ngoài cách trình bày, chọn lọc hình ảnh, nội dung … thì khó khăn nhất chính là viết bài. Người quản lí web phải viết bài sao cho thật hay, ý nghĩa, phù hợp tâm lí người đọc, đúng đắn, thiết thực … Bạn phải biết rằng đối tượng khách hàng của bạn là ai để khi viết bài bạn phải nêu bật lí do tại sao họ nên chọn sản phẩm, dịch vụ của bạn. Vấn đề này tưởng đơn giản nhưng lại rất khó đối với những ai không có khiếu văn chương.

+ Về việc nắm bắt kĩ thuật “sản xuất quảng cáo”: Đây là một câu chuyện dài, nếu bạn không chịu bỏ tiền và nỗ lực học tập thì sẽ không gặt hái được những kết quả tốt đẹp.

+ Về việc quản lí tiền bạc: Có thể nói quản lí chặt chẽ tiền bạc là yêu cầu gần như cao nhất đối với người muốn trở nên giàu có.

+ Về việc tuyển dụng, quản lí nhân sự: Đừng coi thường tính chuyên nghiệp ngay từ đầu. Nhân viên phải có những đức tính giống người chủ, phải có đạo đức nghề nghiệp, mặc đồng phục và nhã nhặn với khách … Đối với những bạn đã từng đứng ở cương vị quản lí có những hiểu biết nhất định về nghiệp vụ nhân sự thì không nói làm gì, nhưng đối với những bạn mới ra đời khi đứng ở cương vị quản lí sẽ rất lúng túng. Cái gì cũng phải học, rèn luyện từ từ, nếu có quyết tâm thì bạn sẽ làm tốt thôi.

Thuận lợi:    

+ Đây là một ý tưởng kinh doanh cần số vốn rất ít.

+ Bằng cách thức kinh doanh cho thuê qua web sẽ giảm thiểu chi phí, rủi ro mà phạm vi hoạt động lại vô cùng rộng.

+ Nhu cầu nhiều.

+ Có thu nhập ổn định do kí kết được các hợp đồng từ các tổ chức, cá nhân.

+ Sáng tạo không có giới hạn.

+ Giải quyết việc làm cho những người cao tuổi nhàn rỗi, tàn tật vì có thể nhận những đối tượng này làm nhân viên.

5. Cách thức chuẩn bị và thực hiện:

Liên hệ Chat Master Club qua địa chỉ E-mail bên dưới để được hướng dẫn cụ thể:

chatmasterclub@yahoo.com

6. Duy trì và phát triển:

Liên hệ Chat Master Club qua địa chỉ E-mail bên dưới để được hướng dẫn cụ thể:

chatmasterclub@yahoo.com

 

Chat Master Club

07/11/2012

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s